- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày: 31-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kim Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Thanh Đình;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2023/HSST-QĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi khác H Me), sinh ngày 17 tháng 5 năm 1988, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Đ; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em, bị cáo có vợ Đoàn Thị Kiều H1, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019;
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án, Bản án số 07/2020/HSST ngày 11/02/2020, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn, ngày 26/01/2022 chấp hành xong án phạt tù; chưa nộp án phí và phần dân sự trong Bản án.
Về nhân thân:
- Bản án số: 17/2011/HSST ngày 20/12/2011, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
- Bản án số: 06/2012/HSST ngày 18/01/2012, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Văn H 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
- Bản án số: 21/2013/HSST ngày 30/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022 cho đến nay, bị cáo đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đoàn Thị Kiều H1 (tên gọi khác L), sinh ngày 07 tháng 02 năm 1997, tại tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Tổ 3, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn B và bà Nguyễn Thị Y; bị cáo là con thứ 02, trong gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo có chồng là Nguyễn Văn H, có 03 con (trong đó có 01 con riêng), con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2022 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn P, sinh năm: 1991; địa chỉ: Tổ 5, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Trần Thị Quỳnh NH; sinh năm: 1991; địa chỉ: Tổ 3, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1978, địa chỉ: tổ 6, phường N, thành phố Q tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Võ Thị N; sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 8, phường N, thành phố Q. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt NH sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 22/8/2022, tại khu vực trước dãy phòng trọ ở địa chỉ số 20 đường Xuân Diệu, tổ 5, phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Công an thành phố Quảng Ngãi phát hiện đối tượng Trần Thị Quỳnh NH đang ngồi trên xe mô tô hiệu Attila màu vàng, biển số 76U1 - 6035 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện dưới tấm lót để chân phía trước của xe mô tô 76U1 - 6035 có 03 (ba) đoạn ống hút màu trắng được hàn kín, bên trong các đoạn ống hút có chứa các tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Qua làm việc, đối tượng Trần Thị Quỳnh NH khai vừa mượn xe mô tô 76U1 - 6035 của Đoàn Thị Kiều H1 (tên thường gọi là L; hiện đang ở tại phòng số 01 của dãy phòng trọ ở địa chỉ 20 đường Xuân Diệu) để đón con NH chưa kịp sử dụng thì bị Công an kiểm tra.
Ngay sau đó, Công an thành phố Quảng Ngãi tiến hành kiểm tra hành chính phòng số 01 của dãy phòng trọ ở địa chỉ số 20 đường Xuân Diệu, tổ 5, phường N, thành phố Q phát hiện 03 đối tượng, gồm: Đoàn Thị Kiều H1, Trần Văn P và Nguyễn Văn H cùng các đồ vật, tài sản liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Qua điều tra xác định có hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Đoàn Thị Kiều H1 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Văn H như sau:
Dãy nhà trọ ở địa chỉ số 20 đường Xuân Diệu, tổ 5, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi do bà Nguyễn Thị Mỹ H2 làm chủ sở hữu. Khoảng tháng 5/2022, bà H2 cho vợ chồng bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 và Nguyễn Văn H thuê phòng của dãy phòng trọ này với giá tiền 850.000 đồng/tháng.
- Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Đoàn Thị Kiều H1:
Vào chiều ngày 21/8/2022 (H1 không nhớ rõ thời gian cụ thể), Đoàn Thị Kiều H1 gặp đối tượng tên Tùng (không rõ nhân thân lai lịch, là bạn bè ngoài xã hội của bị cáo H1), nhờ Tùng tìm chỗ mua ma túy “đá”. Tùng đồng ý rồi cho H1 sử dụng điện thoại của mình liên lạc với đối tượng bán ma túy tên Trà (H1 không biết thông tin lai lịch) để mua ma túy “đá”. Đối tượng Trà đồng ý bán 03 tép ma túy “đá” cho H1 với giá tiền 900.000 đồng và hẹn giao nhận ma túy tại khu vực Quảng Trường thuộc phường N, thành phố Q. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô biển số 76U1 - 6035 đến khu vực Quảng Trường, thành phố Quảng Ngãi gặp đối tượng Trà mua 03 (ba) tép ma túy “đá” và cất giấu dưới thảm lót chân xe mô tô 76U1 - 6035 rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ ở địa chỉ số 20 đường Xuân Diệu, tổ 5, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Đến tối cùng ngày, H1 cho Trần Văn P và Trần Thị Quỳnh NH mượn xe mô tô 76U1 - 6035 để sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày 22/8/2022, P và NH cùng đi xe mô tô 76U1 - 6035 đến phòng trọ của H1 trả và ở lại phòng trọ chơi, Sau đó, Nguyễn Văn H (chồng H1) rủ P, NH cùng sử dụng ma túy “đá”. Đến khoảng 17 giờ ngày 22/8/2022, NH mượn xe mô tô 76U1 - 6035 của H1 đi đón con NHng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an thành phố Quảng Ngãi kiểm tra, phát hiện dưới thảm lót chân xe mô tô 76U1 - 6035 có 03 (ba) tép ma túy “đá” do bị cáo H1 mua và cất giấu. Công an thành phố Quảng Ngãi tiến hành tạm giữ, niêm phong các chất nghi ma túy cùng các tài sản, đồ vật liên quan của bị can H1 NH đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 03 đoạn ống nhựa màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu 0,39 gam (BL: 63).
- Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Văn H:
Khoảng 11 giờ ngày 22/8/2022, Nguyễn Văn H cùng Đoàn Thị Kiều H1 đang ở phòng số 01 của dãy phòng trọ ở địa chỉ số 20 đường Xuân Diệu, tổ 5, phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi thì Trần Thị Quỳnh NH và Trần Văn P cùng đi xe mô tô biển số 76U1 - 6035 đến trả cho H1 và ở lại phòng trọ chơi. Do H có nhu cầu sử dụng ma túy “đá” nên sử dụng điện thoại di động của mình liên lạc với một đối tượng tên V (H không biết thông tin lai lịch; đối tượng V là bạn bè ngoài xã hội với H) qua số điện thoại 0787673987 để xin ma túy “đá” sử dụng. V đồng ý và hẹn H lên xã Nghĩa Thuận, huyện Tư Nghĩa để lấy ma túy “đá”. Sau đó, H điều khiển xe mô tô 76U1 - 6035 đến xã Nghĩa Thuận, huyện Tư Nghĩa rồi được đối tượng V chỉ chỗ cất giấu ma túy “đá” cho H đến lấy. Khi đến chỗ cất giấu ma túy (H không nhớ địa chỉ), H lấy túi nylon màu đen mang về phòng trọ. Tại phòng trọ, H mở túi nylon màu đen, thấy bên trong có 01 (một) túi ma túy “đá”, 20 (hai mươi) ống thủy tinh thẳng, 02 (hai) nỏ thủy tinh. H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có sẵn trong phòng rồi nấu ma túy “đá” sử dụng. Tiếp đó, H nói với P và NH “qua ngồi chơi” (nghĩa là rủ P, NH cùng sử dụng ma túy “đá” với mình) thì P và NH đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, NH mượn xe mô tô 76U1 — 6035 H1 đi đón con NHng chưa kịp sử dụng thì bị Công an thành phố Quảng Ngãi kiểm tra, phát hiện dưới thảm lót chân xe mô tô 76U1 - 6035 có 03 (ba) tép ma túy “đá”. Công an thành phố Quảng Ngãi đã tiến hành kiểm tra phòng số 1, phát hiện các đối tượng Đoàn Thị Kiều H1, Nguyễn Văn H và Trần Văn P cùng các dụng cụ sử dụng ma túy và các đồ vật, tài liệu khác có liên quan. Tiến hành xét nghiệm ma túy trong cơ thể, kết quả phát hiện Đoàn Thị Kiều H1, Nguyễn Văn H, Trần Văn P, Trần Thị Quỳnh NH đều dương tính với ma túy.
Tại Kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: Chất rắn màu nâu – trắng bám dính trên đầu ống thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) là ma túy, loại Methamphetamine; mẫu ở dạng vết nên không tiến hành cân khối lượng.
Tại Kết luận giám định số 1020/KL-KTHS, ngày 13/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi trích xuất được dữ liệu danh bạ, các cuộc gọi, nội dung tin nhắn điện thoại; dữ liệu danh bạ, các cuộc gọi, nội dung tin nhắn các cuộc trò chuyện lưu trữ trong ứng dụng Messenger, Zalo trong các điện thoại đã tạm giữ của Nguyễn Văn H, Đoàn Thị Kiều H1, Trần Văn P, Trần Thị Quỳnh NH (BL: 76 – 105). Trong đó, trích xuất trong điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng – vàng mặt sau có dòng chữ “VIVO”, số IMEI 1: 864320038444879, IMEI 2: 865320038444861 (điện thoại của Nguyễn Văn H) thể hiện liên lạc với số điện thoại 0787673987 (tên trong danh bạ là “ A V”) có 12 cuộc gọi và 20 tin nhắn với nội dung liên quan đến việc xin ma túy (BL: 85 – 86).
Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 27/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố Đoàn Thị Kiều H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng: Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 năm 06 tháng tù đến 8 năm tù.
Đối với bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Và còn đề nghị xử lý vật chứng.
Ý kiến tranh luận của các bị cáo: Thống nhất không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định NH sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Theo bản án số: 06/2012/HSST ngày 18/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Nguyễn Văn H pH bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh Ph, địa chỉ: Số nhà 318 đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, số tiền là 850.000 đồng, theo kết quả xác minh thi hành án bị cáo chưa bồi thường NHng tại Biên bản làm việc ngày 02/02/2023 bà Ph xác định bị cáo H đã bồi thường xong số tiền 850.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình NH Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 22/8/2022, tại địa chỉ số 20 đường X, tổ 5, phường N, thành phố Q, Công an thành phố Quảng Ngãi phát hiện Đoàn Thị Kiều H1 cất giấu 0,39 gam ma túy, loại Methamphetamine ở dưới thảm lót chân xe mô tô 76U1 – 6035 nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, tại phòng số 01 của dãy phòng trọ ở địa chỉ số 20 đường X, tổ 5, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi Công an thành phố Quảng Ngãi còn phát hiện Nguyễn Văn H đã cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy và cùng sử dụng ma túy với Trần Văn P, Trần Thị Quỳnh NH. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ. Bản thân các bị cáo là người đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn H biết được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm; bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm NHng các bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, tiền án tiền sự, nhân thân của các bị cáo.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Nguyễn Văn H, Đoàn Thị Kiều H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn H bị kết án theo Bản án số 07/2020/HSST ngày 11/02/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp“Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân xấu. Bản án số 17/2011/HSST ngày 20/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Bản án số 06/2012/HSST ngày 18/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Văn H 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Bản án số 21/2013/HSST ngày 30/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 túi niêm phong mã số NS2.2007945, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Huỳnh Minh Nh, bên trong có: 0,3 gam mẫu ma túy, loại Methamphetamine, đây là ma túy thu giữ của Đoàn Thị Kiều H1 (còn lại sau giám định); 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh, trên nắp nhựa có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh, đây là bộ dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H.
- 20 ống thủy tinh thẳng, màu trắng (Nguyễn Văn H khai để nhờ người làm thành “nỏ” sử dụng ma túy “đá”); 03 “nỏ” thủy tinh trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng, một đầu được uốn cong, bị vỡ; 01 ống hút nhựa màu trắng – cam, một đầu được cắt nhọn; 01 hộp nhựa màu xám, trên hộp nhựa có dòng chữ “VĨNH LONG”; 05 bật lửa; 01 khẩu trang màu xám; 01nắp nhựa màu xanh được đục hai lỗ tròn, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá có dòng chữ “JET”; 01 miếng vải. Đây là các công cụ Nguyễn Văn H dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 túi niêm phong mã số PS3 2023472, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang Hiếu, bên trong có 01 điện thoại di động màu đỏ - đen, trên thân máy có dòng chữ “OPPO”, số IMEI1: 868476034487150, IMEI2: 868476034487143; đây là điện thoại di động tạm giữ của Trần Văn P, không liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên tuyên trả lại cho Trần Văn P.
- 01 túi niêm phong mã số PS3 2023473, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang Hiếu, bên trong có 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có dòng chữ “SAMSUNG”, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000332300431; đây là điện thoại di động tạm giữ của Trần Thị Quỳnh NH, không liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên tuyên trả lại cho Trần Thị Quỳnh NH.
- 01 túi niêm phong mã số PS3 2023474, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang Hiếu, bên trong có 01 điện thoại di động màu vàng, mặt sau có dòng chữ “Iphone”, số IMEI: 354389066317933, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000075516445; đây là điện thoại di động tạm giữ của Đoàn Thị Kiều H1, không liên quan đến hành vi phạm tội Đoàn Thị Kiều H1 nên trả lại cho bị cáo H1.
- 01 túi niêm phong mã số PS3 2023475, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang Hiếu, bên trong có 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng – vàng, mặt sau có dòng chữ “VIVO”, số IMEI1: 865320038444879, IMEI2: 865320038444861, đây là điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Văn H, H đã sử dụng để liên lạc xin ma túy của đối tượng tên “V” (không rõ lai lịch) nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Bên trong thân máy của điện thoại Vivo có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401210833390991 và 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 84011801331564910T, không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy;
- 01 xe mô tô biển số 76U1- 6035 có đặc điểm màu vàng, nhãn hiệu SYM, số loại Attila, số máy 002771, số khung 002771; tạm giữ của Đoàn Thị Kiều H1. Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 76U1-6035 thuộc sở hữu của bà Võ Thị N (sinh năm 1980; địa chỉ: tổ 8, phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi), Đoàn Thị Kiều H1 thuê từ tháng 02/2022 với giá tiền 30.000 đồng/ngày để sử dụng. Việc H1 sử dụng xe máy 76U1-6035 đi mua ma túy của đối tượng “Trà”, bà N không biết. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu xe máy vật chứng, xác định xe máy trên không thuộc tang vật trong vụ án nào khác. Ngày 20/12/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô 76U1-6035 cho bà N.
Các vấn đề khác có liên quan:
Đối với các đối tượng Trần Thị Quỳnh NH và Trần Văn P:
Các đối tượng NH, P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, đồng thời thông báo cho chính quyền địa phương lập hồ sơ quản lý theo quy định.
Đối với đối tượng tên Trà (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và đối tượng tên Tùng (chưa rõ nhân thân, lai lịch):
Vào chiều ngày 21/8/2022, Tùng cho Đoàn Thị Kiều H1 mượn điện thoại liên lạc với đối tượng bán ma túy tên Trà, H1 khai nhận không biết nhân thân, lai lịch và không có số điện thoại liên lạc của đối tượng Tùng và Trà nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin để xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với đối tượng tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch): Ngày 22/8/2022, Nguyễn Văn H sử dụng điện thoại di động liên lạc với số điện thoại “0787673987” của đối tượng V để xin ma túy sử dụng, H lưu số điện thoại “0787673987” trong danh bạ điện thoại là “A V”. Nguyễn Văn H khai nhận không biết thông tin, lai lịch của đối tượng V. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Công ty dịch vụ Mobifone khu vực 3 cung cấp thông tin lai lịch chủ sở hữu có số điện thoại “0787673987” NHng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra và đề nghị xử lý sau.
Đối với hành vi không tố giác tội phạm của Đoàn Thị Kiều H1: Đoàn Thị Kiều H1 biết rõ Nguyễn Văn H thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, NHng H1 là vợ của H, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Hình sự thì H1 không pH chịu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác, là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H, Đoàn Thị Kiều H1 mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2022.
2. Đối với bị cáo Đoàn Thị Kiều H1: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Kiều H1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 túi niêm phong mã số NS2.2007945, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Huỳnh Minh Nhựt, bên trong có: 0,3 gam mẫu ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu xanh, trên nắp nhựa có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh,
- 20 ống thủy tinh thẳng, màu trắng; 03 “nỏ” thủy tinh trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng, một đầu được uốn cong, bị vỡ; 01 ống hút nhựa màu trắng – cam, một đầu được cắt nhọn; 01 hộp nhựa màu xám, trên hộp nhựa có dòng chữ “VĨNH LONG”; 5 bật lửa; 01 khẩu trang màu xám; 01 nắp nhựa màu xanh được đục hai lỗ tròn, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá có dòng chữ “JET” ; 01 miếng vải.
- 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401210833390991 và 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 84011801331564910T bên trong thân máy của điện thoại Vivo.
3.2. Tuyên trả lại:
- Trả lại cho Trần Văn P 01 túi niêm phong mã số PS3 2023472, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang Hiếu, bên trong có 01 điện thoại di động màu đỏ - đen, trên thân máy có dòng chữ “OPPO”, số IMEI1: 868476034487150, IMEI2: 868476034487143.
- Trả lại cho Trần Thị Quỳnh NH 01 túi niêm phong mã số PS3 2023473, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang H, bên trong có 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có dòng chữ “SAMSUNG”, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000332300431;
- Trả lại cho Đoàn Thị Kiều H1: 01 túi niêm phong mã số PS3 2023474, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang H, bên trong có 01 điện thoại di động màu vàng, mặt sau có dòng chữ “Iphone”, số IMEI: 354389066317933, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số 8984048000075516445;
3.3. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
01 túi niêm phong mã số PS3 2023475, bên ngoài có đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và chữ ký của giám định viên Võ Quang H, bên trong có 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng – vàng, mặt sau có dòng chữ “VIVO”, số IMEI1: 865320038444879, IMEI2: 865320038444861,
(Vật chứng, tài sản theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi ngày 01-3-2023).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H, Đoàn Thị Kiều H1 mỗi bị cáo pH nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND Thành phố. Quảng Ngãi; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Quảng Ngãi; - Phòng NVLT Công an thành phố Quảng Ngãi; - Chi Cục THADS thành phố Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Kim Loan |