vanban.org

Bản án 63/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để

Cáo trạng này thay thế cáo trạng số 22 ngày 09/4/2015 của Viện kiểm sát KT. VIỆN TRƯỞNG Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Hữu Ch - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2017/HSST
Ngày: 28/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân Thanh

Ông Trần Hồng Sơn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trịnh Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành

- tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2017/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Dƣơng Hữu Ch

sinh năm 1970

Trú tại: Thôn L – Xã S – Huyện Th – Tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Làm ruộng

Trình độ học vấn: lớp 7/10

Con ông Dương Hữu Th ( Đã chết) và bà Nguyễn Thị H Có vợ là Nguyễn Thị Kh và có 02con, Lớn SN 1990, nhỏ SN 1994 Tiền sự: Không Tiền án: Ngày 14/7/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 16 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2015 đến ngày 02/02/2015, hiện đang tại ngoại tại địa phương. ( Có mặt tại phiên tòa ).

Ngƣời bào chữa cho bị cáo Dƣơng Hữu Ch: Bà Đặng Thị Hương là trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời bị hại: Anh Nguyễn Bá D, SN 1992 ( Vắng mặt ).

Trú tại: Thôn L – Xã S – Huyện Th – Tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Dương Hữu Ch bị Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thuận Thành truy tố về hành vi phạm tội, như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 29/01/2015, Dương Hữu Ch đang trên đường đi bộ về nhà. Khi Chính đi đến trước cửa nhà anh Nguyễn Bá D ở cùng thôn với Ch thì Ch thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, mầu trắng - vàng, biển kiểm soát 99F1 – 052.97 của anh D đang dựng ở trước cửa nhà, nhưng xe không khóa cổ, khóa càng và không có người trông giữ. Ch đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh D rồi Ch đi đến dắt chiếc xe của anh D mang về nhà Ch cất giấu. Sau đó, Ch đã dùng tay tháo biển kiểm soát của chiếc xe giấu vào trong bếp nhà Ch.

Đến ngày 30/01/2015, Ch nhận thấy hành vi của mình là sai trái nên Ch đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện Th đầu thú và giao nộp chiếc xe cùng biển kiểm soát xe mà Ch đã chiếm đoạt của anh D.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 02/2/2015 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Th kết luận: Chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, mầu xe trắng - vàng, biển kiểm soát 99F1 – 052.97 khi bị chiếm đoạt có giá trị: 12.740.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 43/CTr -VKS ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th - Bắc Ninh truy tố bị cáo Dương Hữu Ch về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa trong bản luận tội đã phân tích động cơ, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Hữu Ch phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, n khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Hữu Ch từ 09 đến 12 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo trong bản luận cứ đã trình bày:

- Về tội danh: Đồng ý với tôi danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố đối với bị cáo Dương Hữu Ch.

- Về áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ch đã đồng ý với quan điểm của đại diện viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g Khoản 1 Điều 48; điểm b, n khoản 1, khoản 2 Điều 46, Bộ luật hình sự, để cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được cải tạo tại địa phương. Ngoài ra người bào chữa không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Dương Hữu Ch đã không khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th đã công bố biên bản đầu thú, các lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo Ch tại cơ quan điều tra, có sự giám hộ của anh trai bị cáo là Dương Việt B đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ ngày 29/01/2015, Dương Hữu Ch đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WaveS, mầu xe trắng - vàng, biển kiểm soát 99F1 - 05297 trị giá 12.740.000 đồng của anh Nguyễn Bá D mang về nhà tháo biển số và cất giấu. Đến ngày 30/01/2015 Ch đã đến Công an huyện Th đầu thú và giao nộp tài sản đã chiếm đoạt của anh D.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 02/2/2015 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Th kết luận: Chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, mầu xe trắng - vàng, biển kiểm soát 99F1 - 05297 khi bị chiếm đoạt có giá trị: 12.740.000 đồng.

Như vậy căn cứ vào lời khai của Ch tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, biên bản định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận Dương Hữu Ch phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, không những thế mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy đối với Ch cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng phòng ngừa chung và giáo dục riêng đối với bản thân bị cáo.

Xét về nhân thân bị cáo thì thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, vào ngày 14/7/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 16 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt, nay bị cáo lại phạm tội khi chưa được xóa án tích nên đây là tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự do vậy cần áp dụng đối với Ch là phù hợp. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan điều tra để giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt được và đầu thú để khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, hơn nữa căn cứ vào bản kết luận giám định số: 194/KLGĐ, ngày 07/7/2016 của Viện giám định pháp y tâm thần Trung Ương kết luận: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Dương Hữu Ch có mắc bệnh rối loạn tâm thần do sử dụng rượu bia có mã số F10.5 nên Ch bị hạn chế khẳ năng nhận thức, mặt khác người bị hại tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt cũng đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bố mẹ bị cáo là người có công được tặng huân chương kháng chiến hạng nhì do vậy cần áp dụng điểm b,n Khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng phòng ngừa chung và giáo dục riêng đối với bản thân bị cáo. Đối với bị cáo Ch trong vụ án này tuy rằng tại cơ quan Điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã không trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử, do vậy bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự về thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Bá D đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ nhận xét trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Hữu Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b. n Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí tòa án.

Xử phạt bị cáo Dương Hữu Ch 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam bị cáo từ ngày 30/01/2015 đến ngày 02/02/2015.

Về án phí: Buộc Dương Hữu Ch phải nộp là 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ