vanban.org

Bản án 63/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 14/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Ngô Tiến S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS. Xử phạt: bị cáo Ngô Tiến S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Tiến S phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Ngô Tiến S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2017/HSST
Ngày: 14/12/2017.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoài Nam.

Ông Lê Văn Lợi.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Hằng - cán bộ Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Giang - kiểm sát viên.

Ngày 14/12/2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2017/HSST ngày 19/10/2017 đối với bị cáo:

Ngô Tiến S: sinh 1993; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Ngô Tiến Đ, sinh 1960; Con bà: Trần Thị L, sinh 1967.

Tiền án: ngày 17/9/2014 bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 17/4/2016 chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2017 đến ngày 20/7/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: ông Lê Văn H - sinh 1959.

Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Có đơn xin xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Bùi Sỹ H, sinh 1991.

Trú tại: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Có đơn xin xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Ngô Tiến S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 01h sáng ngày 15/7/2017, Ngô Tiến S đi chơi về khuya, do không có tiền tiêu sài nên khi đi đến ngõ nhà ông Lê Văn H (là bác rể, ở cùng thôn) S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà ông H bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. S trèo tường rào vào trong, khi vào đến sân, S phát hiện thấy chiếc ti ti hiệu Samsung màn hình phẳng màu đen đặt trên kệ gỗ ở hành lang căn nhà mái bằng hướng Nam. Quan sát thấy bóng điện ở hành lang vẫn bật sáng nhưng mọi người đã ngủ say, S lại rút dắc cắm ổ điện, rút dây ăng ten của ti vi thì phát hiện thấy 01 đầu thu kỹ thuật số màu trắng, S lấy luôn rồi ôm tất cả ra ngoài cổng. Khi đi ra ngoài, S để lại đôi dép ở phía sau kệ gỗ đặt ti vi giáp với cửa ra vào. S đưa ti vi và đầu thu kỹ thuật số qua hàng rào ra ngoài rồi vác lên vai đi bộ sang cánh đồng thuộc địa phận xã Q (cách nhà ông H khoảng 400m) giấu tài sản vừa trộm cắp được vào bụi cỏ ở bãi đất trống rồi quay về nhà ngủ tiếp. Khoảng 7h30’ cùng ngày, S thức dậy đi bộ đến bãi đất trống nơi giấu chiếc ti vi và đầu thu kỹ thuật số lấy toàn bộ tài sản đó đi tắt qua cánh đồng mang đến quán internet của anh Bùi Sỹ H (sinh 1991, ở khu phố 1, thị trấn Q) để hỏi bán tài sản. Khi đến quán, S nói với H: “Em đang cần tiền để lo công việc, em có cái ti vi anh xem rồi mua giúp em”, anh H hỏi: “Ti vi của ai mà mày bán”, S trả lời: “Ti vi của em, em mua ở Hải Phòng về xem, nay không dùng nữa em cần tiền nên bán”. Sau khi mang ti vi và đầu thu kỹ thuật số vào ổ điện cắm thử, thấy còn dùng được nên H hỏi S: “Mày bán giá bao nhiêu”, S nói: “Em đang cần tiền nên bán 5 triệu đồng”, H đồng ý đưa cho S 5 triệu. S cầm tiền rồi lên thành phố T chơi điện tử và tiêu xài cá nhân hết.

Đến 17h cùng ngày, biết không thể che dấu, S đến cơ quan công an huyện Q đầu thú, khai báo hành vi phạm tội của mình.

Theo báo cáo của ông Lê Văn H: tài sản của gia đình ông bị mất trộm gồm 01 ti vi Sam sung 49 ich và 01 đầu thu kỹ thuật số mới mua được khoảng 01 tháng, trị giá khi lắp đặt là 16.300.000đ. Ngày 17/7/2017, Hội đồng định giá tài sản huyện Q định giá chiếc ti vi và đầu thu kỹ thuật số trị giá 13.500.000đ. Ngày 31/7/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản gồm 01 ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu Samsung 49 ich, 01 đầu thu kỹ thuật số DVBT2 cho ông Lê Văn H, ông H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự.

Anh Bùi Sỹ H khi mua ti vi và đầu thu kỹ thuật số của S đem đến bán không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, vì vậy không có cơ sở xử lý đối với H. Số tiền 5.000.000đ anh H bỏ ra mua ti vi và đầu thu kỹ thuật số của S, nay anh H tự nguyện cho S, không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại cho anh và không có đề nghị gì khác.

Tại bản cáo trạng số 62/KSĐT-HS ngày 19/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Ngô Tiến S về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS.

Xử phạt: Ngô Tiến S từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2017.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại ông Lê Văn H đã nhận lại đầy đủ tài sản bị mất và không có yêu cầu gì khác.

Về vật chứng: 01 đôi dép thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường (loại dép 02 quai giống nhau, màu đen, mặt trên in chìm hình ngôi sao và chữ THAILAN, cỡ số 37, in nổi chữ HPK, hình răng cưa nổi toàn bộ bề mặt dưới của dép) là của Ngô Tiến S bỏ lại. Nay S từ chối nhận lại đôi dép vì đã cũ, không còn giá trị sử dụng, đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo hiện sống cùng bố mẹ, không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 1h sáng ngày 15/7/2017 khi đi chơi đêm về khuya, đi qua ngõ nhà ông Lê Văn H bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo đã trèo tường vào nhà ông H, lợi dụng mọi người trong nhà đã ngủ say bị cáo lén lút trộm cắp chiếc ti vi Sam Sung 49 ich và 01 đầu thu kỹ thuật số màu trắng đem ra cánh đồng cất giấu vào bụi cỏ ở bãi đất trống rồi về nhà đi ngủ. 7h30’ cùng ngày, bị cáo thức dậy đến nơi cất giấu ti vi và đầu thu kỹ thuật số mang đến quán internet bán cho Bùi Sỹ H lấy 5 triệu đồng, sau đó lên thành phố T chơi điện tử và tiêu xài cá nhân hết.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; qua kết quả xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 BLHS, như cáo trạng của VKSND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: do cần tiền chi tiêu cá nhân, lợi dụng đêm khuya khi gia đình ông H ngủ say bị cáo đã đột nhập vào lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (ti vi và đầu thu kỹ thuật số) của gia đình ông H, gây thiệt hại về tài sản cho công dân.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu lao động chân chính, ăn chơi đua đòi dẫn đến có hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi cải tạo về địa phương không chịu tu dưỡng rèn luyện, tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, làm mất trật tự trị an xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly xã hội một thời gian nhất định để giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: ngày 17/9/2017 bị cáo bị TAND quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Vì vậy, lần phạm tội này là tái phạm, phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 48 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã ăn năn hối hận với việc làm của mình, đến cơ quan công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm; người bị hại là ông Lê Văn H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự:

- Gia đình ông Lê Văn H đã nhận đủ 01 ti vi Sam Sung màu đen 49 ich và 01 đầu thu kỹ thuật thuật số màu trắng là tài sản bị mất, ông H không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.

- Đối với anh Bùi Sỹ H khi mua ti vi và đầu thu kỹ thuật số của bị cáo không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, vì vậy không có cơ sở xử lý đối với H. Số tiền 5.000.000đ anh Bùi Sỹ H mua ti vi và đầu thu của bị cáo, nay anh H tự nguyện cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho anh.

Tang vật: - 01 ti vi Sam Sung màu đen 49 ich và 01 đầu thu kỹ thuật số màu trắng bị cáo trộm cắp của gia đình ông Lê Văn H là tang vật của vụ án, đã được trả lại cho gia đình ông H, gia đình ông H đã nhận lại đầy đủ.

- 01 đôi dép cỡ số 37, mặt trên đôi dép in chìm hình ngôi sao và in chữ THAILAN, in nổi chữ HPK hình răng cưa nổi toàn bộ bề mặt dưới của dép thu tại nền nhà ông H phía sau kệ ti vi ở hành lang, bị cáo khai nhận là đôi dép của mình và từ chối nhận lại. Xét thấy đôi dép đã cũ bị cáo bỏ lại nhà ông H khi đột nhập vào lấy tài sản, đến nay bị cáo từ chối không nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Qua xác minh của Cơ quan điều tra, bị cáo hiện đang sống cùng bố mẹ, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Ngô Tiến S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS.

Xử phạt: bị cáo Ngô Tiến S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2017.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS; khoản 1, 2 Điều 99; Điều 231, 234 BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

- Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép, loại dép 2 quai, màu đen, mặt trên đôi dép in chìm hình ngôi sao và in chìm chữ THAILAN, mặt dưới dép có in số dép 37, in nổi chữ HPK, hình răng cưa nổi toàn bộ bề mặt dưới.

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Q theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2017 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Q với Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Q.

- Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ