- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Văn K; sửa phần hình phạt đối với bị cáo Vũ Văn K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh N như sau:
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 248 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 627/2024/HS-PT Ngày: 12/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Nam;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 460/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh N.
Bị cáo có kháng cáo:
Vũ Văn K, sinh năm 1990 tại tỉnh N; nơi cư trú: Số nhà 04, ngõ 16, đường H, tổ 15, phường B, thành phố T, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K1 và bà Đinh Thị T1; có vợ Nguyễn Thanh N1 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, bé nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
+ Tại Quyết định số 39/QĐXPHC-CATX ngày 14/3/2011, Công an thị xã T (nay là thành phố T) xử phạt 500.000 đồng về hành vi “Tụ tập đông người gây mất trật tự công cộng”. K đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 14/3/2011.
+ Tại Quyết định số 07/QĐ-XPHC ngày 13/4/2020, Phòng cảnh sát Công an tỉnh N xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Bán số lô, số đề”. K đã chấp hành xong quyết định ngày 20/4/2020.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2023.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12 năm 2015, trong quá trình chơi game tại các quán Internet trên địa bàn thành phố T, Vũ Văn K thấy nhiều người chơi game RikVip nên tò mò tìm hiểu và biết được Game bài RikVip là Hệ thống trò chơi trên mạng Internet, sử dụng đồng tiền ảo (gọi là tiền Rik) để các đối tượng đánh bạc mua, bán, đặt cược trong các trò chơi của hệ thống và có thể quy đổi thành tiền VNĐ. Mặc dù biết Game bài Rikvip là hệ thống trò chơi đánh bạc trực tuyến nhưng do hám lợi, Vũ Văn K vẫn thiết lập tài khoản để tham gia chơi. Ngày 07/12/2015, K sử dụng thông tin, số CMND 164409608 của K và số điện thoại 01682149827 của vợ K là chị Nguyễn Thanh N1 để thiết lập 01 tài khoản RikVip có tên đăng nhập là “Vuvankhoi90”, tên hiển thị “khoinhan”.
Ban đầu để có tiền Rik chơi game, Vũ Văn K đã nạp Rik bằng hình thức nạp qua thẻ cào viễn thông (Viettel, Vinaphone, Mobifone….với tỷ lệ quy đổi khi nạp Rik là 1 VNĐ = 1 Rik). Do thời gian đã lâu, K không nhớ đã mua và nạp bao nhiêu thẻ; mệnh giá thẻ mỗi lần nạp và tổng số tiền đã sử dụng để mua thẻ viễn thông nạp Rik. Sau đó, K biết việc nạp tiền Rik thông qua các đại lý tiện lợi và rẻ hơn nên đã chuyển sang nạp Rik thông qua đại lý cấp II.
Vũ Văn K có mối quan hệ quen biết Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1990, trú tại tổ 3, phường T2, thành phố T (Chủ tài khoản đại lý cấp II “Baoannb”, “Khoinhan1”) và Nguyễn Phú K2, sinh năm 1987, trú tại tổ 4, phường T2, thành phố T (Chủ tài khoản đại lý cấp II “Kiensoi.td”) nên K liên hệ giao dịch mua, bán và thống nhất tỷ lệ quy đổi tiền Rik sang VNĐ với H1 và K2 theo tỷ lệ: K mua Rik là 840.000 VNĐ/1.000.000 Rik; bán Rik là 820.000 VNĐ/1.000.000 Rik; hình thức giao dịch và phương thức thanh toán là: K sẽ điện thoại liên hệ, thống nhất số lượng Rik cần mua hoặc cần bán; H1 hoặc K2 sẽ trực tiếp đến nơi K đang chơi game để nhận tiền VNĐ, rồi chuyển Rik sang tài khoản “Vuvankhoi90” cho K khi K mua tiền Rik và trả tiền VNĐ cho K, rồi K chuyển tiền Rik sang tài khoản đại lý của H1 hoặc K2 khi K bán tiền Rik.
Sau khi có tiền Rik trong tài khoản, Vũ Văn K thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến thông qua các trò chơi được mua bằng tiền trong hệ thống Game bài Rikvip. Trên cơ sở dữ liệu đã được kiểm tra, khai thác từ máy chủ Game bài Rikvip, xác định: trong khoảng thời gian từ 00h00 đến 21h50 ngày 08/8/2016, K đã sử dụng máy tính ở quán Internet tại thành phố T, đăng nhập tài khoản “Vuvankhoi90”, tên hiển thị là “khoinhan” và liên tục đánh bạc trực tuyến thông qua 04 trò chơi được mua bằng tiền trong hệ thống Game bài Rikvip. Cụ thể như sau:
Vũ Văn K đặt cược đối với hình thức chơi “Ba cây” 85 lượt với 28.600.000 Rik, tương đương số tiền 24.402.400 VNĐ, thắng 40 lượt được trả thưởng 12.251.500 Rik, tương đương số tiền 10.291.260 VNĐ; đặt cược 74 lượt hình thức chơi “Ba cây biên” với 40.800.000 Rik, tương đương số tiền 34.272.000 VNĐ, thắng 53 lượt được trả thưởng 22.413.500 Rik, tương đương số tiền 18.827.340 VNĐ; đặt cược 33 lượt hình thức chơi “Ba cây gà” với 1.650.000 Rik, tương đương số tiền 1.386.000 VNĐ, thắng 01 lượt được trả thưởng 248.000 Rik, tương đương số tiền 208.320 VNĐ; đặt cược 688 lượt hình thức chơi “Tài xỉu” với 656.455.978 Rik, tương đương số tiền 551.423.021 VNĐ, thắng 263 lượt được trả thưởng 602.663.442 Rik, tương đương số tiền 506.237.291 VNĐ. Tổng cộng Vũ Văn K đã đặt cược 880 lượt với tổng số 727.505.978 Rik, tương đương số tiền 611.105.022 VNĐ (tỷ lệ quy đổi 840.000VNĐ/1.000.000 Rik); thắng cược 357 lượt được trả thưởng 637.576.442 Rik, tương đương số tiền 535.564.211VNĐ (tỷ lệ quy đổi 840.000VNĐ/1.000.000 Rik). Trong số 880 lượt đặt cược 04 hình thức đánh bạc nêu trên do mạng hệ thống bị lỗi hoặc đặt cược chậm hoặc đặt cược không cân…, Vũ Văn K được hệ thống game Rikvip hoàn lại số tiền đã đặt cược 175 lượt với tổng số 44.145.000 Rik, tương đương 37.081.800 VNĐ (tỷ lệ quy đổi 840.000VNĐ/1.000.000 Rik).
Như vậy trong khoảng thời gian từ 0h00 đến 21h50 ngày 08/8/2016, Vũ Văn K đã liên tục đánh bạc trực tuyến trong Game bài Rikvip bằng 04 hình thức chơi được mua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc gồm tiền đặt cược thành công 705 lượt và tiền thắng cược được trả thưởng 357 lượt là 1.320.937.420 Rik, tương đương 1.109.587.432 VNĐ. K bị thua 45.784.536 Rik, tương đương 38.459.000 VNĐ (tỷ lệ quy đổi 840.000VNĐ/1.000.000 Rik).
Ngày 09/10/2023, Vũ Văn K đã đến cơ quan điều tra đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Ngày 01/11/2023, cơ quan An ninh điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N cùng Vũ Văn K tiến hành kiểm tra, đối soát dữ liệu điện tử là tài liệu được tách từ vụ án hình sự Nguyễn Tiến H1 “Tổ chức đánh bạc” theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 46/QĐ-ANĐT ngày 22/9/2023 của cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N; tài liệu gồm 13 tờ giấy khổ A4, in hai mặt có đánh số thứ tự từ 08 đến 20 được khai thác, trích xuất từ đĩa DVD chứa dữ liệu máy chủ của Hệ thống Game bài Rikvip do cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh P cung cấp; tài liệu ghi nhận toàn bộ thông tin về tài khoản Rikvip có tên đăng nhập là “Vuvankhoi90”, tên hiển thị là “khoinhan” của Vũ Văn K như: lịch sử thiết lập, đăng ký tài khoản; lịch sử giao dịch mua, bán Rik giữa K với Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Phú K2 và lịch sử đánh bạc ngày 08/8/2016 của Vũ Văn K với hệ thống Game bài Rikvip. Vũ Văn K đã xác nhận dữ liệu thông tin liên quan đến tài khoản Rikvip là của K và do K đăng nhập thực hiện hành vi đánh bạc ngày 08/8/2016.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết dịnh:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn K 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn K 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, bản án còn quyết định án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/3/2024 bị cáo Vũ Văn K có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Vũ Văn K giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo vì cho rằng bị cáo tự nguyện đến Cơ quan điều tra để đầu thú, thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự giác thi hành xong phần hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm, có bố ruột là ông Vũ Văn K1 bị bệnh động kinh và giảm sút sức khỏe sau khi bị tại nạn, không có khả năng lao động, bị cáo là lao động chính của gia đình; bị cáo được Đồn Biên phòng K3 xác nhận việc cung cấp thông tin để Đồn Biên phòng K3 kịp thời bắt giữ, xử lý đối tượng trộm cắp, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương. Đây là những tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm vận dụng, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị cáo Vũ Văn K thấy rằng: Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Văn K về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có nhân thân xấu nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo được Đồn Biên phòng K3 xác nhận việc bị cáo đã cung cấp thông tin để Đồn Biên phòng K3 kịp thời bắt giữ, xử lý đối tượng trộm cắp, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo cũng đã tự giác thi hành xong phần hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có bố ruột là ông Vũ Văn K1 đang thường xuyên điều trị bệnh động kinh, không có khả năng lao động, bị cáo là lao động chính của gia đình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 mà bị cáo được xem xét vận dụng ở giai đoạn phúc thẩm.
Bị cáo Vũ Văn K có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm hình phạt của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm; giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
Bị cáo nói lời sau cùng xin HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, bản án sơ thẩm, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xẻ xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Văn K kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với dữ liệu điện tử đã thu giữ, hồ sơ mở tài khoản và sao kê các tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vũ Văn K có mối quan hệ quen biết Nguyễn Tiến H1 (Chủ tài khoản đại lý cấp II “Baoannb”, “Khoinhan1”) và Nguyễn Phú K2 (Chủ tài khoản đại lý cấp II “Kiensoi.td”) nên K liên hệ giao dịch mua, bán và thống nhất tỷ lệ quy đổi tiền Rik sang VNĐ với H1 và K2 theo tỷ lệ: K mua Rik là 840.000 VNĐ/1.000.000 Rik; bán Rik là 820.000 VNĐ/1.000.000 Rik. Trong khoảng thời gian từ 0h00 đến 21h50 ngày 08/8/2016, Vũ Văn K đăng nhập vào tài khoản có tên đăng nhập “vuvankhoi90”, tên hiển thị “khoinhan” để tham gia đánh bạc trực tuyến trong hệ thống Game bài “Rikvip” dưới hình thức chơi “Ba cây”, “Ba cây biên”, “Ba cây gà” và “Tài xỉu” được mua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.109.587.432 VNĐ tương đương 1.320.937.420 Rik (trong đó đặt cược 705 lượt với số tiền 574.023.221 VNĐ, tương đương 683.360.978 Rik và 357 lượt thắng cược được trả thưởng với số tiền 535.564.211 VNĐ, tương đương 637.576.442 Rik). Kết quả thắng, thua ngày 08/8/2016, K bị thua cược 38.459.000 VNĐ, tương đương 45.784.536 Rik. Hành vi của Vũ Văn K đã đủ yếu tố cầu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999.
Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước 00 giờ ngày 01/11/2018 (ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) nhưng sau ngày này mới bị khởi tố, truy tố và xét xử nên Tòa án sơ thẩm áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội là đúng hướng dẫn của Nghị quyết số 41/2017/NQ-QH ngày 20/06/2017. Tại Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hình phạt nhẹ hơn Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Văn K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không oan.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo:
Bị cáoVũ Văn K có nhân thân xấu nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo thì thấy: Bị cáo Vũ Văn K bị khởi tố trên cơ sở căn cứ tin báo tố giác tội phạm ở giai đoạn điều tra mở rộng vụ án “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc” do Phan Sào N2 cầm đầu. Một số bị cáo khác trong vụ án đã được xét xử giai đoạn 1, giai đoạn 2 của vụ án phạm tội “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Đánh bạc” với số tiền nhiều hơn, được hưởng lợi nhiều hơn đã được Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm áp dụng hình phạt tù từ 18 đến 24 tháng tù hoặc 03 năm tù cho hưởng án treo. Bị cáo Vũ Văn K đã liên hệ với Nguyễn Tiến H1 (Chủ tài khoản đại lý cấp II “Baoannb”, “Khoinhan1”) và Nguyễn Phú K2 (Chủ tài khoản đại lý cấp II “Kiensoi.td”) để giao dịch mua, bán và thống nhất tỷ lệ quy đổi tiền Rik sang VNĐ với H1 và K2 để đánh bạc. Như vậy, đây là vụ án có đồng phạm, bị cáo K giữ vai trò hạn chế trong vụ án. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với Vũ Văn K, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đối chiếu với các bị cáo phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc” với số tiền hưởng lợi tương đương trong vụ án ở giai đoạn 1, 2 của vụ án để đảm bảo tính công bằng của pháp luật.
Tòa án sơ thẩm đã xem xét bị cáo K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đã đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ để vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo được Đồn Biên phòng K3 xác nhận việc bị cáo đã cung cấp thông tin để Đồn Biên phòng K3 kịp thời bắt giữ, xử lý đối tượng trộm cắp, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo đã tự giác thi hành xong phần hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm q khoản 1, khoản Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 cần được vận dụng khi xem xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
Bị cáo K bị truy tố, xét xử theo khoản 2, khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Như đã phân tích, bị cáo Vũ Văn K giữ vai trò không đáng kể trong vụ án; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nên thuộc trường hợp được vận dụng khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 khi lượng hình. Mức hình phạt 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù đối với bị cáo là tương đối nghiêm khắc. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt đối với bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Vũ Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Văn K; sửa phần hình phạt đối với bị cáo Vũ Văn K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh N như sau:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 248; điểm p, q khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 1, khoản 2 Điều 54, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Bị cáo Vũ Văn K đã thi hành xong hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh N; - VKSND tỉnh N; - Cục THADS tỉnh N; - Bị cáo (qua địa chỉ); - Lưu HS; HCTP, TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Mai |