- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc T - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2025/HSPT Ngày: 31 - 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Đình Hưng và bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 108/2025/HSST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên)
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN THỊ NGỌC T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 01 năm 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Westbay C E, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã P, tỉnh Hưng Yên); nơi ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường Q, tỉnh Thái Nguyên); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh Đ và bà Mai Thị T1; có chồng là Nguyễn Bắc H và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ngọc T đã lợi dụng các mối quan hệ của mình để tổ chức cho các đối tượng đánh bạc với nhau bằng hình thức mua bán số lô, đề qua điện thoại di động. T sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G, lắp sim số thuê bao 0344.895.604 cài đặt tài khoản Telegram để nhận số lô, đề của khách và tải ứng dụng LoterryVN để phân tích số lô, đề và tính toán thắng thua (ứng dụng LoterryVN đồng bộ với tin nhắn trên ứng dụng Telegram). Sau khi nhận các số lô, đề của khách, T tổng hợp rồi chuyển qua tài khoản Telegram của Lê Khắc C đăng ký bằng số thuê bao 0378.236.468 và tài khoản Telegram của đối tượng tên C1 (không rõ lai lịch) đăng ký bằng số thuê bao 0362.468.513 để hưởng tiền chênh lệch.
Về hình thức đánh bạc: Hằng ngày T so sánh kết quả xổ số kiến thiết Miền B được công bố lúc 18 giờ 30 phút để tính toán tiền thắng thua. Số lô nào trùng với hai số cuối của 27 giải thì trúng thưởng và trả thưởng cho khách với giá 80.000 đồng/01 điểm; Số lô xiên (2,3,4), tất cả các số lô trong các cặp lô xiên trên đều trùng với hai số cuối của 27 giải thì trúng thưởng, lô xiên hai trả thưởng gấp 10 lần, lô xiên 3 trả gấp 40 lần và lô xiên 4 trả gấp 80 lần so với tổng số tiền mua; Đối với số đề và giải nhất, nếu trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng và sẽ trả thưởng gấp 70 lần so với tổng số tiền mua; Đối với số ba càng, nếu trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng và trả thưởng gấp 400 lần so với tổng số tiền mua.
T quy định với khách và đầu chuyển đi số lô, số đề như sau:
- Số lô thu với giá từ 21.800 đồng – 22.000 đồng/điểm lô, chuyển đi với giá 21.700 đồng/điểm lô (hưởng lợi từ 100 đồng – 300 đồng/điểm lô)
- Số đề và giải nhất thu với giá từ 72% - 75%/ tổng số tiền, chuyển đi với giá 71,3%/tổng số tiền mua (hưởng lợi từ 0,7% - 3,7%/tổng số tiền).
- Số ba càng thu với giá từ 72% - 75%/tổng số tiền, chuyển đi với giá 60%/tổng số tiền (hưởng lợi từ 12% - 15%/tổng số tiền).
- Lô xiên (2,3,4) thu với giá từ 57% - 80%/tổng số tiền, chuyển lô xiên 02 với giá 57%/tổng số tiền (hưởng lợi từ 01% - 23%/tổng số tiền), chuyển lô xiên 03 với giá 52%/tổng số tiền (hưởng lợi từ 5% - 28% /tổng số tiền), chuyển lô xiên 04 với giá 45%/tổng số tiền (hưởng lợi từ 12% - 35%/tổng số tiền).
Về hành vi đánh bạc của T ngày 18/9/2023: T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G, lắp sim số thuê bao 0344.895.604 liên lạc với Dương Mạnh H1 qua số thuê bao 0362.570.264 (T lưu trong danh bạ là “Hug Xegiac”) để thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, đề. Cụ thể: H1 nhắn tin mua của T 305 số đề, với số tiền là 10.286.000 đồng; 03 số lô với 40 điểm thành tiền là 872.000 đồng. Tổng số tiền H1 mua số lô, số đề của T ngày 18/9/2025 là 11.158.000 đồng. Sau khi so sánh kết quả xổ số kiến thiết Miền B, H1 trúng thưởng 20 điểm lô được số tiền 1.600.000 đồng, trúng thưởng 01 số đề được 700.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc giữa T với H1 trong ngày 18/9/2023 là 13.458.000 đồng. T và H1 đều xác định đã thanh toán cho nhau số tiền mua bán số lô, số đề và tiền trúng thưởng.
Về hành vi tổ chức đánh bạc của T ngày 19/9/2023: T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G, lắp sim số thuê bao 0344.895.604 liên lạc để bán các số lô, số đề cho các đối tượng như sau:
1. T bán cho Lê Khắc C 325 số đề với số tiền là 68.958.000 đồng; 13 số ba càng với số tiền là 1.970.000 đồng. Tổng số tiền C mua số lô, đề của T trong ngày 19/9/2023 là 70.928.000 đồng.
2. T bán cho Nguyễn Thùy D 01 số lô với 05 điểm thành tiền là 109.000 đồng; 07 cặp lô xiên với số tiền là 1.800.000 đồng; 60 số đề với số tiền là 60.000.000 đồng; 60 số giải nhất với số tiền là 72.000.000 đồng. Tổng số tiền D mua số lô, đề của T trong ngày 19/9/2023 là 133.909.000 đồng.
3. T bán cho Hoàng Thị A 16 số lô với 304 điểm thành tiền là 6.688.000 đồng; 119 số đề với số tiền là 4.740.000 đồng. Tổng số tiền A mua số lô, đề của T trong ngày 19/9/2023 là 11.428.000 đồng. A sử dụng điện thoại di động lắp sim số thuê bao 0565.262.937 nhắn tin cho T.
4. T bán cho Dương Mạnh H1 89 số đề với số tiền là 5.810.000 đồng, 10 số lô với 50 điểm thành tiền là 1.090.000 đồng. Tổng số tiền H1 mua số lô, đề của T trong ngày 19/9/2023 là 6.900.000 đồng. H1 sử dụng sim số thuê bao 0362.570.264 nhắn tin mua của T.
Như vậy, trong ngày 19/9/2023, T bán số lô, đề cho Lê Khắc C, Nguyễn Thùy D, Hoàng Thị A, Dương Mạnh H1 với tổng số tiền là: 223.165.000 đồng. Số tiền đánh bạc T, C, A, D, H1 đều chưa thanh toán cho nhau và tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền B.
Cùng ngày 19/9/2023, sau khi nhận được các số lô, đề của khách, Nguyễn Thị Ngọc T và Lê Khắc C thỏa thuận sẽ san các số lô, đề nhận được của khách cho nhau với mục đích hưởng tiền chênh lệch nhiều hơn và giảm thiểu rủi ro việc khách trúng thưởng nhiều nhưng lại chuyển cho một chủ lô, đề gây khó khăn cho thanh toán thắng, thua. Sau đó, T sử dụng ứng dụng LoterryVN tổng hợp, phân tích rồi chuyển đi cho Lê Khắc C 87 số giải nhất với số tiền là 70.050.000 đồng, 21 số đề với số tiền là 10.945.000 đồng, 16 số ba càng với số tiền là 2.200.000 đồng, 19 cặp lô xiên với số tiền là 4.480.000 đồng. Tổng số tiền T mua số lô, đề của C trong ngày 19/9/2023 là 87.675.000 đồng. T chưa thanh toán tiền mua số lô, số đề cho C và tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền B.
Tổng số tiền Thủy tổ C2 đánh bạc với Lê Khắc C, Nguyễn Thùy D, Hoàng Thị A, Dương Mạnh H1 trong ngày 19/9/2023 là: 310.840.000 đồng.
Ngoài ra, T chuyển cho đối tượng tên C1 (không rõ nhân thân, địa chỉ) qua số thuê bao 0362.468.513 gồm: 74 số lô, đề thành tiền là 56.315.740 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Ngọc T khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội như nêu trên. Theo T khai nhận trong ngày 18/9/2023, T thu lời bất chính từ việc chuyển số lô, đề mua của Dương Mạnh H1 cho các đối tượng khác để hưởng chênh lệch là 76.000 đồng. Trong ngày 19/9/2023, T thu lời bất chính từ việc thu mua các số lô, đề của các đối tượng rồi chuyển cho các đối tượng khác để hưởng chênh lệch tổng số tiền là 2.923.000 đồng.
Lời khai nhận của Nguyễn Thị Ngọc T phù hợp với lời khai của Lê Khắc C, Nguyễn Thùy D, Hoàng Thị A, Dương Mạnh H1, và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ như: Biên bản sự việc, biên bản làm việc, biên bản đọc tin nhắn, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.
Quá trình điều tra mở rộng vụ án trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T còn phát hiện các đối tượng đánh bạc trong ngày 19/9/2023 gồm: Phạm Tuấn A1, Phùng Thế D1, Trần Thị B1, Trương Tuấn A2, Vũ Hoài P. Đối với Lê Khắc C, Vũ Hoài P, Nguyễn Thùy D, Trần Thị B2, Dương Mạnh H1, Trần Thị A3, Phùng Thế D1, Phạm Tuấn A1, Trương Tuấn A2 hiện đã bị xét xử tại Bản án số 294/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 108/2025/HSST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên) đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Ngọc T 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc;
- Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự phạt Nguyễn Thị Ngọc T 20.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt xử lý vật chứng; biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 29/4/2025 bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu mới là biên lai thu tiền phạt bổ sung, tiền án phí 5.200.000 đồng.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các điều cấm được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét hành vi, tính chất phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo phạm hai tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc, số tiền tham gia đánh bạc cũng tương đối lớn. Quá trình xem xét tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp biên lai thu tiền án phí, tiền phạt là 5.200.000 đồng nên có căn cứ xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51/BLHS. Từ việc xem xét ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo có thể xem xét đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Tổ chức đánh bạc” để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội để bị cáo yên tâm cải tạo tốt. Từ những phân tích trên tôi đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm TAND tỉnh Thái Nguyên:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T; Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm số 108/2025/HSST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên) đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T đối với tội “Tổ chức đánh bạc” xuống còn 12 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T làm trong hạn luật định và đúng theo thủ tục quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
. Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
- Ngày 18/9/2023: Nguyễn Thị Ngọc T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Dương Mạnh H1 với số tiền là 13.458.000 đồng. Số tiền T thu lời bất chính từ việc mua bán số lô, số đề với H1 ngày 18/9/2023 là 76.000 đồng.
- Ngày 19/9/2023: Nguyễn Thị Ngọc T bán số lô, số đề cho Nguyễn Thùy D với số tiền 133.909.000 đồng, Dương Mạnh H1 số tiền 6.900.000 đồng, Lê Khắc C số tiền 70.928.000 đồng, Hoàng Thị A số tiền 11.428.000 đồng. Tổng số tiền ngày 19/9/2023 T bán số lô, đề cho D, H1, C, A là 223.165.000 đồng và một số các đối tượng khác chưa rõ nhân thân lai lịch. Sau đó, T đã chuyển các số lô, đề cho Lê Khắc C số tiền 87.675.000 đồng để hưởng lợi 2.923.000 đồng. Tổng số tiền Thủy tổ C2 đánh bạc với Lê Khắc C, Nguyễn Thùy D, Hoàng Thị A, Dương Mạnh H1 trong ngày 19/9/2023 là: 310.840.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo nộp số tiền 5.200.000 đồng là tiền án phí hình sự sơ thẩm, một phần tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy đây là tình tiết mới để xem xét cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, xét thái độ khai báo và nhân thân cũng như ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự cần sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt đối với tội “Tổ chức đánh bạc”.
. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 20.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 5.200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000136 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 và Điều 345 của Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm số 108/2025/HSST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên ), Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 06 (Sáu) tháng tù về tội Đánh bạc và 12 (Mười hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án.
4. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Ghi nhận bị cáo đã nộp một phần số tiền phạt bổ sung là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000136 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước.
Ghi nhận bị cáo đã nộp tiền án phí sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000136 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
6. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 108/2025/HSST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên) có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - TAND khu vực 1 – Thái Nguyên; - VKSND khu vực 1 – Thái Nguyên; - THADS tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ích Yên |