- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN N DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HS-ST Ngày: 19/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Hội thẩm N dân:
1. Bà Trần Thị Kim Tân
2. Ông Lữ Quốc Toàn
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan – Thư ký Tòa án N dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Văn S, sinh ngày 03/11/2002 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp A, xã Xuân H, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi D, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1978; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện X từ ngày 13/01/2022 đến nay (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1978. Địa chỉ: ấp A, xã Xuân H, huyện X, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn S có quen biết với 01 người thanh niên tên N (không rõ N thân lai lịch) và biết N có buôn bán pháo nổ nên nảy sinh ý định mua pháo của N về bán kiếm lời. Thực hiện ý định, S đã đề nghị đặt mua của N 10 pháo nổ loại 36 ống pháo, với số tiền 14.000.000 đồng thì N đồng ý. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/01/2022, N gọi điện cho S nói ra khu vực ngã 3 ấp Chàm, Quốc lộ 1A thuộc ấp 3, xã Xuân H, huyện X, tỉnh Đồng Nai để nhận 10 pháo nổ được để trong thùng giấy dán kín, do xe khách (không rõ biển số xe) vận chuyển đến. Sau khi nhận được pháo, S đưa toàn bộ về nhà cất giấu với mục đích tìm người mua pháo, bán lại kiếm lời. Qua bạn bè ngoài xã hội, S biết người thanh niên sử dụng số điện thoại 0966.900.134, không rõ N thân lai lịch, đang có nhu cầu cần tìm mua pháo nổ nên S đã liên lạc với người thanh niên này để thỏa thuận việc mua bán pháo nổ. Người thanh niên đồng ý mua 10 pháo nổ của S với số tiền 16.000.000 đồng, địa điểm hẹn giao dịch mua bán là tại khi vực câu xăng H, thuộc ấp 6, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 20 giờ 40 phút ngày 13/01/2022, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 60H5-221.77 chở 01 thùng giấy bên trong có 10 hộp pháo nổ đến khu vực cây xăng H, đặt xuống đất sát lề đường quốc lộ 1A- hướng xã Xuân Tâm đi thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và gặp người thanh niên mua pháo nổ nêu trên. Khi cả hai đang thỏa thuận việc mua bán pháo nổ thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế- ma túy Công an huyện Xuân Lộc phối hợp Công an xã Xuân Tâm phát hiện bắt quả tang S cùng 10 hộp giấy, mỗi hộp giấy có kích thước 10x14x14cm, có 36 ống giấy nhỏ, S khai ống giấy nhỏ là pháo nổ, còn người thanh niên còn lại đã nhanh chống bỏ chạy, trốn thoát. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn S và niêm phong tang vật theo quy định.
- Tại bản kết luận giám định số 723/C09B ngày 17/01/2022 của Phân viện khoa học hình sự thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tất cả mẫu vật gửi đến giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 12,7kg.
Vật chứng thu giữ:
- 10 hộp giấy, mỗi hộp có kích thước 10x14x14cm, bên trong mỗi hộp giấy có 36 ống giấy nhỏ, đã được niêm phong ký hiệu M;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen cùng sim số 0961.128.047.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen bạc, biển số 60H5-221.77. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô nói trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, ngụ tại ấp A, xã Xuân H, huyện X, tỉnh Đồng Nai là mẹ ruột của Bùi Văn S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho bà T.
Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 27/4/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 14 tháng đến 16 tháng tù.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện:
Vào lúc 20 giờ 40 phút, ngày 13/01/2022 tại đoạn đường Quốc lộ 1A, gần khu vực cây xăng H, thuộc ấp 6, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế- ma túy phối hợp với Công an xã Xuân Tâm phát hiện bắt quả tang Bùi Văn S đang có hành vi buôn bán hàng cấm là 10 hộp giấy, mỗi hộp giấy có kích thước 10x14x14cm, có 36 ống pháo nổ cho một đối tượng không rõ N thân lai lịch. Tất cả mẫu vật gửi đến giám định được kết luận là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 12,7 kg (theo quy định tại Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 về việc quản lý sử dụng pháo của Chính phủ)
Do đó, Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c (Buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam) khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc nhóm tội phạm nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 08 khối hình học, chữ nhật, kích thước (14x14x10)cm, bên ngoài mặt giấy, bên trong mỗi khối có 36 ống giấy hình trụ tròn, tất cả được niêm phong, dán kín trong 01 thùng giấy carton và 01 sim số 0961.128.047 – là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen – là vật dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu đen bạc, biển số 60H5-221.77. Quá trình điều tra xác định xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, ngụ tại ấp A, xã Xuân H, huyện X, tỉnh Đồng Nai - là mẹ ruột của Bùi Văn S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trao trả lại cho bà T là đúng quy định pháp luật.
Về các vấn đề khác:
- Đối với người thanh niên tên N là người S khai đã bán pháo nổ cho S tại đoạn đường Quốc lộ 1A, gần khu vực cây xăng H, thuộc ấp 6, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Đồng Nai (chưa xác định được N thân lai lịch) và người thanh niên mua pháo nổ của S (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch) đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc tiếp tục xác minh làm rõ.
- Đối với bà Nguyễn Thị T không biết S dùng xe mô tô của mình để thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm là pháo nổ nên không xử lý là có căn cứ.
Đối với ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
[1] Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/01/2022.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 08 khối hình học, chữ nhật, kích thước (14x14x10)cm, bên ngoài mặt giấy, bên trong mỗi khối có 36 ống giấy hình trụ tròn, tất cả được niêm phong, dán kín trong 01 thùng giấy carton và 01 sim số 0961.128.047.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/5/2022 của Ban Quân lực, Phòng Tham mưu- Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an H.Xuân Lộc; - VKSND H.Xuân Lộc ; - CCTHADS H.Xuân Lộc; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND cấp xã; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Thanh Phượng |