vanban.org

Bản án 62/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 31/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh T bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng điều 60 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI
-----------------
Bản án số: 62/2017/HSST
Ngày: 31/10/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI

* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Xuân Sơn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Bình

2. Ông Lê Văn Mỳ

* Thö kyù ghi bieân baûn phieân toøa: Ông Nguyễn Văn Đô – Thƣ ký Toøa aùn nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Ñoàng Nai.

* Ñaïi dieän VKSND huyện Vĩnh Cửu tỉnh Ñoàng Nai tham gia phieân toøa: Ông Trần Thanh Tuất - Kieåm saùt vieân.

Ngaøy 31 thaùng 10 naêm 2017, taïi truï sôû Toaø aùn nhân dân huyeän Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai xeùt xöû sô thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù soá: 65/2017/HSST ngaøy 16 thaùng 10 naêm 2017 ñoái vôùi bò caùo:

- Hoàng Minh T; sinh ngày 19/8/1997; tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình ñoä vaên hoaù: 12/12; họ và tên cha: Hoàng Văn T, sinh năm: 1966; họ và tên meï Phạm Ngọc Mai T, sinh năm: 1967; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang đƣợc tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại:

1. Ông Hoàng Văn T, sinh năm: 1966 (có mặt).

2. Bà Phạm Ngọc Mai T, sinh năm: 1967 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng trú tại: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/7/2017, lợi dụng lúc cha mẹ là ông Hoàng Văn T bà Phạm Ngọc Mai T vắng nhà, trong nhà chỉ có Hoàng Minh T (con trai ông T) và chị gái là Hoàng Phạm Trúc Q (bị bệnh tâm thần) nên T nảy sinh ý định lấy trộm tiền và vàng của cha mẹ để trả nợ. T sử dụng 01 cái cuốc và 01 con dao cạy bung két sắt để trong phòng ngủ của ông T, bà T lấy trộm tiền và vàng gồm: 3,4 lƣợng vàng SJC; 01 nhẫn vàng 24K, trọng lƣợng 5 chỉ; 01 nhẫn đúc mặt vuông hình con rồng, vàng 23K, trọng lƣợng 8 chỉ 3 phân; 01 nhẫn đúc mặt vuông có đính hạt màu trắng, vàng 61%, trọng lƣợng 2 chỉ 2 phân 9 ly, trọng lƣợng hạt 9 phân 7 ly; 01 nhẫn đúc có đính hạt trái tim màu xanh lá, vàng 61%, trọng lƣợng 1 chỉ 1 phân, trọng lƣợng hạt 5 phân 6 ly và số tiền 13.801.000 đồng đem cất giấu trong cái lu úp ngƣợc sát hàng rào sau vƣờn của gia đình. Sau khi cất giấu tiền, tài sản nêu trên T về nhà nằm ngủ.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày vợ chồng ông T, bà T về nhà phát hiện thấy T đang ngủ ngay cửa ra vào phía sau, ông T hỏi thì T nói dối là khi đang ở nhà thì nghe có ngƣời gọi tên mình phía trƣớc, T đi ra nhƣng không thấy ai khi quay lại vào nhà thì bị té ngã không rõ lý do. Sau khi kiểm tra thì ông T và bà T phát hiện bị mất tiền và vàng để trong két sắt nên trình báo cơ quan công an.

Sau khi nhận đƣợc tin báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng đã phát hiện thu giữ toàn bộ tiền, vàng của ông T, bà T đƣợc cất giấu trong cái lu úp ngƣợc đặt sát bên hàng rào vƣờn của gia đình. Sau khi công an mời lên làm việc T đã khai toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tang vật thu giữ:

- 3,4 lƣợng vàng SJC; 01 nhẫn vàng 24K, trọng lƣợng 5 chỉ; 01 nhẫn đúc mặt vuông hình con rồng, vàng 23K, trọng lƣợng 8 chỉ 3 phân; 01 nhẫn đúc mặt vuông có đính hạt màu trắng, vàng 61%, trọng lƣợng 2 chỉ 2 phân 9 ly, trọng lƣợng hạt 9 phân 7 ly; 01 nhẫn đúc có đính hạt trái tim màu xanh lá, vàng 61%, trọng lƣợng 1 chỉ 1 phân, trọng lƣợng hạt 5 phân 6 ly;

- Số tiền 13.801.000 đồng;

- 01 cái cuốc cán bằng sắt dài khoảng 1m, phần lƣỡi cuốc có vết trầy xƣớc, lƣỡi dài khoảng 20cm;

- 01 con dao bằng kim loại màu trắng kích thƣớc 30cm x 08cm, có dính chất liệu màu đen nghi là màu sơn của két sắt.

Toàn bộ số tiền và tài sản trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã xử lý trả lại cho ông T và bà T là chủ sở hữu.

Tại biên bản định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 43/BB-ĐGTS ngày 29/7/2017 của Hội đồng định giá huyện Vĩnh Cửu xác định tài sản thiệt hại: 3,4 lƣợng vàng SJC; 01 nhẫn vàng 24K, trọng lƣợng 5 chỉ; 01 nhẫn đúc mặt vuông hình con rồng, vàng 23K, trọng lƣợng 8 chỉ 3 phân; 01 nhẫn đúc mặt vuông có đính hạt màu trắng, vàng 61%, trọng lƣợng 2 chỉ 2 phân 9 ly, trọng lƣợng hạt 9 phân 7 ly; 01 nhẫn đúc có đính hạt trái tim màu xanh lá, vàng 61%, trọng lƣợng 1 chỉ 1 phân, trọng lƣợng hạt 5 phân 6 ly có giá là 175.448.420 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: ông Hoàng Văn T và bà Phạm Ngọc Mai T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại và không yêu cầu xử lý hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo Hoàng Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội nhƣ trên.

Taïi Caùo traïng soá: 66/CT-VKS- HS ngaøy 12 thaùng 10 naêm 2017 của Vieän kieåm saùt nhân dân huyeän Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy toá bị cáo Hoàng Minh T veà toäi “Troäm caép taøi saûn” theo điểm e khoaûn 2 Ñieàu 138 của Boä luaät Hình söï.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138, điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, 60 của Bộ luật Hình sự: tuyên bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo T từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 3 năm đến 4 năm tính từ ngày tuyên án. Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu và nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, ngƣời bị hại không ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Minh T đã khai nhận tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Minh T phaïm toäi “Troäm caép taøi saûn” theo quy ñònh taïi điểm e khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Từ đó xác định nội dung vụ án nhƣ sau: khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/7/2016, tại ấp Cây Xoài, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Hoàng Minh T lợi dụng cha mẹ là ông Hoàng Văn T, bà Phạm Ngọc Mai T vắng nhà đã cố ý có hành vi lén lút phá két sắt, lấy trộm tiền và tài sản trong két với tổng giá trị là 189.249.420 đồng.

Haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo T là nghiêm trọng, nguy hieåm cho xaõ hoäi, ñaõ xaâm phaïm ñeán quyền sở hữu taøi saûn của ông Hoàng Văn T, bà Phạm Ngọc Mai T đƣợc pháp luật bảo vệ; gaây maát traät töï trò an tại địa phƣơng, gaây baát bình trong quaàn chuùng nhaân daân. Bò caùo là ngƣời có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhaän thöùc ñöôïc haønh vi lén lút chieám ñoaït taøi saûn cuûa ngöôøi khaùc laø vi phaïm phaùp luaät mà vẫn cố ý chiếm đọat tiền, tài sản có giá trị theo kết quả của Hội đồng định giá huyện Vĩnh Cửu là 189.249.420 đồng. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

- Khi quyết định hình phạt, có xem xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo T không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình tố tụng bị cáo T đã thaønh khaån khai baùo, aên naên hoái caûi, phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn, mới phạm tội lần đầu, tài sản đã thu hồi và trả lại cho ngƣời bị hại, ngƣời bị hại có đơn xin không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; có nơi thƣờng trú cụ thể, rõ ràng (có xác nhận của chính quyền địa phƣơng) nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm g, p khỏan 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử cho bị cáo Hoàng Minh T đƣợc hƣởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại ông Hoàng Văn T, bà Phạm Ngọc Mai T đã nhận lại tiền, tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thƣờng nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.

- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì caùc leõ treân.

QUYEÁT ÑÒNH:

- Tuyeân boá: bị cáo Hoàng Minh T phạm toäi “Troäm caép taøi saûn”.

Aùp duïng điểm e khoaûn 2 Ñieàu 138; ñieåm g, p khoûan 1, khoản 2 Ñieàu 46, Điều 60 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.

Xöû phaït: bò caùo Hoàng Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tuø nhƣng cho hƣởng án treo. Thời hạn thử thách là 5 năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Minh T cho Uỷ ban nhân dân xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nơi bị cáo cƣ trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Hoàng Minh T và các cơ quan liên quan phải chấp hành theo Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự, cụ thể nhƣ sau:

- Trƣờng hợp trong thời gian thử thách bị cáo Hoàng Minh T thay đổi nơi cƣ trú trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu thì Uỷ ban nhân dân xã Tân An có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo Hoàng Minh T đến cƣ trú để giám sát, giáo dục.

- Trƣờng hợp trong thời gian thử thách bị cáo Hoàng Minh T thay đổi nơi cƣ trú ngoài phạm vi huyện Vĩnh Cửu thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu có trách nhiệm làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi bị cáo Hoàng Minh T đến cƣ trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật Thi hành án Hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bò caùo Hoàng Minh T, ngƣời bị hại ông Hoàng Văn T ñöôïc quyeàn khaùng caùo bản án này trong haïn 15 ngaøy, kể töø ngaøy tuyeân aùn. Ngƣời bị hại bà Phạm Ngọc Mai T ñöôïc quyeàn khaùng caùo bản án này trong haïn 15 ngaøy, kể töø ngaøy nhận đƣợc bản án chính hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ