- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lê Minh Đ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dựng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 13/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đoàn và ông Nguyễn Văn Giang.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2025/HSST ngày 22/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 03/11/2025, đối với bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2003, CCCD số 030203018076. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, thành phố Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Thắng T và bà Lê Thị H. Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 89/2021/HS-ST ngày 21/9/2021, Nguyễn Lê Minh Đ bị Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 21 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, 19 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 40 tháng tù. Ngày 26/10/2024, Đ chấp hành xong hình phạt tù của bản án. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H từ ngày 18/7/2025 đến ngày 23/7/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H từ ngày 23/7/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Hà Văn C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2025, Nguyễn Lê Minh Đ đi xe ôm của người không quen biết đến ga P, thuộc khu phố G, xã P, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó, Đ cầm túi ma túy mua được đi xe ôm về phòng trọ thứ 2 thuộc dãy nhà trọ ở tổ dân phố H, phường P, thành phố Hải Phòng do Đàm Văn B,sinh năm 1997, trú tại: Tổ dân phố C, phường N, thành phố Hải Phòng thuê trọ (phòng trọ thứ 2 Bảo cho Đ ở nhờ, giao cho Đ quản lý và sử dụng). Tại đây, Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, nắp chai đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa, 01 lỗ cắm tẩu thuỷ tinh do Đ chuẩn bị từ trước ra, đem đổ hết túi ma túy mua được vào tẩu thủy tinh, dùng bật lửa gas gắn đầu đốt được cuộn bằng tờ giấy bạc hơ nóng tẩu thủy tinh rồi sử dụng một phần ma túy bằng hình thức hút. Bộ dụng cụ sử dụng ma túy chứa phần ma túy còn lại Đ cất giấu ở cạnh cửa nhà vệ sinh phía cuối dãy nhà trọ, sau đó Đ đi làm. Khoảng gần 03 giờ ngày 18/7/2025, Đ cùng với Hà Văn C (là người làm cùng với Đ), sinh năm 1997, trú tại: Tổ dân phố H, phường P đi về phòng trọ do Đ quản lý, sử dụng nêu trên ngồi chơi. Tại đây, Đ rủ C sử dụng ma tuý đá, C đồng ý. Đ đi ra khu vực nhà vệ sinh lấy bộ dụng cụ chứa ma túy đá Đ sử dụng chưa hết đem vào trong phòng, rồi Đ và C dùng bật lửa ga lần lượt sử dụng ma túy bằng hình thức hút. Hồi 03 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi Đ và C sử dụng ma túy xong thì bị Tổ công tác thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H phối hợp với Công an phường P vào kiểm tra phòng trọ, lúc này, Đ cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ném qua ô thoáng phòng trọ sang mái kho để đồ của nhà bên cạnh. Lực lượng Công an tiến hành thu giữ tại vị trí mái kho phía sau ô thoáng phòng trọ Đ đang ở 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý gồm: 01 chai nhựa, nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa, 01 lỗ cắm tẩu thuỷ tinh chứa chất lỏng màu nâu (lực lượng Công an thu giữ chất lỏng màu nâu đựng trong 01 lọ nhựa - niêm phong mẫu số 1, sau khi thu giữ chất lỏng, tẩu thủy tinh vẫn còn bám chất màu nâu - niêm phong mẫu số 2), đồng thời lực lượng Công an thu giữ 01 hộp giấy màu đen bên trong có 01 bật lửa ga và 01 đầu nối được cuộn bằng giấy bạc.
Kết luận giám định số 512/KL-KTHS ngày 22/7/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Chất lỏng màu nâu bám dính trong lọ nhựa của mẫu số 1 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định thể tích, khối lượng chất ma túy bám dính; Chất màu nâu bám dính trong tẩu thuỷ tinh của mẫu số 2 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện để cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính.
H1 lại đối tượng giám định gồm 01 lọ nhựa của mẫu số 1 và 01 tẩu thủy tinh của mẫu số 2 trong niêm phong số 512MT/PC09.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể qua mẫu nước tiểu ngày 18/7/2025 đối với Hà Văn C dương tính với Methamphetamine; Nguyễn Lê Minh Đ dương tính với ma túy loại Methamphetamine và K; Đ khai không biết tại sao kết quả xét nghiệm ma túy lại dương tính với ma túy loại Ketamine.
Cáo trạng số 06/CT-VKSKV10 ngày 20/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng truy tố Nguyễn Lê Minh Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vị phạm tội, thừa nhận có hành vi tự đi mua ma túy đem về nơi ở của mình rồi tổ chức cho Hà Văn C sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine. Bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 18/7/2025. Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 lọ nhựa; 01 tẩu thủy tinh; 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa; 01 hộp giấy màu đen bên trong có 01 bật lửa ga và 01 đầu nối được cuộn bằng giấy bạc.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo và người làm chứng tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng gần 03 giờ ngày 18/7/2025, tại phòng thứ 2, dãy nhà trọ thuộc tổ dân phố H, phường P, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Lê Minh Đ có hành vi cung cấp địa điểm, ma túy loại Methamphetamine và dụng cụ sử dụng ma tuý để Hà Văn C sử dụng trái phép chất ma túy. Hồi 03 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi Đ và C sử dụng ma túy xong thì bị Tổ công tác thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H phối hợp với Công an phường P phát hiện, thu giữ vật chứng.
Về định khung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, căn cứ Kết luận giám định số 512/KL-KTHS ngày 22/7/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Chất lỏng màu nâu bám dính trong lọ nhựa của mẫu số 1 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định thể tích, khối lượng chất ma túy bám dính; Chất màu nâu bám dính trong tẩu thuỷ tinh của mẫu số 2 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện để cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính.
Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể qua mẫu nước tiểu ngày 18/7/2025 đối với Hà Văn C dương tính với Methamphetamine; Nguyễn Lê Minh Đ dương tính với ma túy loại Methamphetamine và Ketamine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi tổ chức cho Hà Văn C sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án: Bản án số 89/2021/HS-ST ngày 21/9/2021, Nguyễn Lê Minh Đ bị Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 21 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và 19 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 40 tháng tù. Ngày 26/10/2024, Đ chấp hành xong hình phạt tù của bản án. Bị cáo chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội do cố ý; lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [4] Về quyết định hình phạt: Hình phạt chính: Qua phân tích, đánh giá các chứng cứ, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo khai báo thành khẩn, nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy thời gian qua diễn biến phức tạp, gây bức xúc trong dư luận nhân dân; bản thân bị cáo đã có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên cần thiết áp dụng hình phạt tù với mức án nghiêm, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung vào ngân sách Nhà nước. Xét việc bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho một người và không vì mục đích lợi nhuận; bản thân bị cáo là người không có thu nhập, không có tài sản và đang bị giam giữ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xác định 01 lọ nhựa; 01 tẩu thủy tinh; 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa; 01 hộp giấy màu đen bên trong có 01 bật lửa ga và 01 đầu nối được cuộn bằng giấy bạc, là vật chứng của vụ án, vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
* Trong vụ án này:
Đối với người bán chất ma tuý cho Nguyễn Lê Minh Đ, tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với anh Đàm Văn B, khi giao phòng trọ cho Nguyễn Lê Minh Đ quản lý và sử dụng, anh B không biết Đ và C sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H không đặt ra việc xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đ và C, ngày 06/10/2025, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ và C, là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dựng trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 18/7/2025.
3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 lọ nhựa; 01 tẩu thủy tinh, là vật chứng hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 512MT/PC09; 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa; 01 hộp giấy màu đen bên trong có 01 bật lửa ga và 01 đầu nối được cuộn bằng giấy bạc.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 15 phút ngày 24/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Hải Phòng).
4/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Lê Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự. 5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 10, thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT, Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THAHS, Công an thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hải Phòng; - Phòng hồ sơ - Công an thành phố Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 10-Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, hồ sơ thi hành án hình sự, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Trung |