vanban.org

Bản án 61/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 29/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Bị cáo Phạm Đức N 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023. Xử lý vật chứng:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức N - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST
Ngày: 29-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông và ông Nguyễn Tấn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 01/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 23/02/2024; theo Quyết định hoãn phiên tòa số 39/HSST-QĐ ngày 05/3/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Đức N, giới tính: Nam; sinh ngày 20/02/1994 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: số X đường B, phường T, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm D (chết) và bà: Trương Thị K, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/11/2013 bị Toà án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 14/11/2018; Bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Huỳnh Trí C, anh Nguyễn Phi H, anh Nguyễn Ngọc S, bà Trương Thị K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 18/9/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP. Quy Nhơn phối hợp với Công an phường Trần Hưng Đạo kiểm tra hành chính số nhà số X đường B, phường T, TP. Quy Nhơn, phát hiện tại tầng 2 có 04 người gồm Phạm Đức N, Nguyễn Ngọc S (sinh năm 1998; trú: số L đường Đ, phường Đập Đá, thị xã An Nhơn), Huỳnh Trí C (sinh năm: 1999; trú: số E đường V, phường Bình Định, thị xã An Nhơn), Nguyễn Phi H (sinh năm 1998; trú: số Q đường U, phường Lê Lợi, TP. Quy Nhơn). Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trên sàn nhà tầng 2 gần cửa ra ban công có 01 gói nilon chứa các hạt tinh thể, 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh uốn cong đầu tròn, 01 cây kéo kim loại, 01 quẹt lửa, 01 bình ga, 01 gói nilon trống. N khai nhận gói nilon chứa các hạt tinh thể là ma túy đá của Nguyên. Ngoài ra, N, H, C khai nhận đang sử dụng ma tuý đá tại đây. Sau đó, Tổ công tác thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Đức N về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và đưa cả 04 đối tượng về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 22 giờ ngày 17/9/2023, Phạm Đức N liên lạc qua ứng dụng Messenger với một người nam tên Đỏ (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, hẹn giao ma tuý tại trước chung cư Phú Tài, đường Lưu Hữu Phước, thành phố Quy Nhơn. N đến điểm hẹn thì có một người nam khác (không rõ lai lịch) nói N đưa 500.000 đồng rồi đi qua phía mặt đường Lê Đức Thọ để nhận ma túy. N đi đến đứng gần quán cà phê của chung cư Phú Tài chờ thì có người ném 01 chai nước dán 01 gói ma túy xuống. N nhặt và mang gói ma túy về số nhà số X đường B, phường T, thành phố Quy Nhơn rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn tại nhà rồi đổ một ít ma tuý để sử dụng, số ma túy đá còn lại N cất trên sàn nhà tầng 2 gần cửa ra ban công. Sáng ngày 18/9/2023, N tiếp tục sử dụng ma túy đá còn trong nỏ.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, Nguyễn Phi H đến nhà của N để chở mẹ của N đi công việc; Nguyễn Ngọc S tới nhà N chơi, còn Huỳnh Trí C đế nhà của N để đo đạc kích thước dán giấy tường phòng ngủ. Cả 04 người có mặt trong phòng ngủ của N trên tầng 2. N đặt bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên sàn nhà, lấy ma tuý từ trong gói nilon bỏ vào nỏ thủy tinh rồi đốt lên sử dụng và để gói ma túy trên nên nhà. N không rủ nhưng Huỳnh Trí C và Nguyễn Phi H thấy N sử dụng mà túy và để dụng cụ sử dụng ma túy trên nền nhà nên đến sử dụng ma túy và được N cho phép; riêng Nguyễn Ngọc S không sử dụng. Đối với số ma túy còn lại trong gói nilon để trên nền nhà, Nguyên dự định sẽ sử dụng hết. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang hành vi sử dụng trái dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 21/9/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định ban hành Kết luận giám định số 418/KL-KTHS, kết luận: Các hạt tinh thể đựng bên trong gói nilon có khối lượng 0,3426 gam là ma tuý Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự 247, Danh mục II, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã thu giữ:

- 0,3426 gam ma tuý Methamphetamine.

- 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh cong đầu tròn.

- 01 cây kéo bằng kim loại.

- 01 gói nilon trống.

- 01 quẹt lửa.

- 01 bình ga.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, số imei: 359264069242583, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, số imei 1: 353279113576055, imei 2: 353280113576053, gắn sim 1: 0961.377.749 và sim 2: 0344.439.968.

- Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSQN ngày 01/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Đức N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phạm Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Đức N theo Cáo trạng.

- Về trách nhiệm Hình sự: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX:

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng liên quan đến việc sử dụng ma túy

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamsungGalaxy A11, số imei 1: 353279113576055, imei 2: 353280113576053, gắn sim 1: 0961.377.749 và sim 2: 0344.439.968, do bị cáo sử dụng liên lạc mua ma tuý

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, số imei: 359264069242583, do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Phạm Đức N thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Phạm Đức N xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên toà nên HĐXX có cơ sở để kết luận: Vào ngày 17/9/2023, bị cáo Phạm Đức Ng mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng mang về nhà tại số X đường B, phường T, thành phố Quy Nhơn và lấy ra sử dụng một ít. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, bị cáo tiếp tục đổ ma tuý ra ống hút để sử dụng, lúc này có Huỳnh Trí C và Nguyễn Phi H đến nhà của bị cáo chơi thấy bị cáo sử dụng ma tuý, bị cáo không rủ nhưng C và H tự ý sử dụng sử dụng ma túy và được bị cáo đồng ý.

Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma tuý và tiền chất có số thứ tự là 247, danh mục II thuộc Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ, là chất gây nghiện, gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nên Nhà nước độc quyền quản lý, mọi việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất này phải theo quy định đặt biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bị cáo Phạm Đức Nguyên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ điều đó, nhưng xem thường pháp luật, bị cáo vẫn mua ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng và cung cấp dụng cụ, ma túy để Huỳnh Trí C, Nguyễn Phi H sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo. Do đó, Cáo trạng số 52/CT-VKSQN ngày 01/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Phạm Đức N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung: “Đối với 02 người trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm hại đến sức khỏe và sự phát triển của con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, vì bị Tòa án kết án về tội “Cướp tài sản”.

4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương), được HĐXX xem đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra hiện thu giữ số ma túy còn lại sau giám định, các dụng cụ sử dụng ma túy, 02 điện thoại di động, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với chất ma túy do Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định kể cả các dụng cụ sử dụng ma túy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với điện thoại hiệu Samsung Galaxy A11, bị cáo sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma tuý, điện thoại có giá trị kinh tế nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, các sim của điện thoại không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác:

- Trong vụ án này, Huỳnh Trí C và Nguyễn Phi H là những người sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà số X đường B, phường T, TP. Quy Nhơn vào ngày 18/9/2023. Tuy nhiên họ không góp tiền cùng bị cáo Nguyên để mua ma tuý sử dụng nên không phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã chuyển hồ sơ đến Công an TP. Quy Nhơn xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

- Đối với người bán ma tuý cho bị cáo, cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, đang điều tra làm rõ, sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Bị cáo Phạm Đức N 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định, có chữ ký của Lê Tuấn Tịnh, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Nhật Hoàng (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bỉ đựng mẫu vật và 0,1724 gam mẫu A còn lại sau giám định”.

+ 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh cong đầu tròn.

+ 01 cây kéo bằng kim loại.

+ 01 gói nilon trống.

+ 01 quẹt lửa.

+ 01 bình ga.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, số imei: 359264069242583, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động vỏ màu đen, trên vỏ ngoài có dòng chữ “SAMSUNG”, đã qua sử dụng, hiệu Samsung Galaxy A11, số imei 1: 353279113576055, imei 2: 353280113576053, gắn sim 1: 0961377749, sim 2: 0344439968.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

4. Án phí: Buộc bị cáo Phạm Đức N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ