vanban.org

Bản án 61/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố CVC phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo CVC 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2023. Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án CVC - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố CVC phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 61/2024/HS-ST
Ngày 29-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Minh Ngọc.

Ông Cà Văn Đại.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

CVC, sinh ngày 15/02/1978, tại HT, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã HT, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; con ông CVP và con bà CTL, đều đã chết; có vợ là TTY, sinh năm 1976, có 03 con lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh Hùng – Luật sư. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: CVT, sinh năm 1998, địa chỉ: Bản P, xã HT, huyện ML, tỉnh SL. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo CVC bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 18 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, tại bản Ỏ, xã HT, huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang CVC, sinh ngày 15/02/1978, ở bản Po, xã HT, huyện ML, tỉnh SL đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do CVC tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp: 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 49 viên nén màu hồng, CVC khai là hồng phiến để sử dụng;

01 chiếc xe moto nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen bạc, BKS 26L1-096.63, xe qua sử dụng.

Ngày 18/12/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do CVC tự giác giao nộp: 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 49 viên nén màu hồng có khối lượng 4,78 gam, lấy 0,48 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu C1.

Cơ quan Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 82/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL, kết luận: Mẫu ký hiệu C1 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,48 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 4,78 gam Methamphetamine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo CVC, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra CVC khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/12/2023 CVC đi xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen bạc, BKS 26L1-096.63 từ nhà đến bản HT, xã CT, huyện MCC, tỉnh YB, tại đây CVC có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên và địa chỉ 01 túi Methamphetamine với giá 1.000.000, đồng cất giấu ở túi quần bên trái, mục đích để sử dụng, đi đến khu vực bản Ỏ, xã HT, huyện ML thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy CVC khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 1.000.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của CVC.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo CVC đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS-ML ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo CVC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

2

Tuyên bố CVC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt CVC từ 36 đến 42 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 túi nilon màu xanh; 44 viên Methamphetamine, có khối lượng 4,30 gam (đều được niêm phong).

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen bạc, BKS 26L1-096.63, xe qua sử dụng. Được xác định là tài sản của CVT, khi CVC mang đi mua ma túy, CVT không biết, cần trả lại cho CVT.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo CVC phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo CVC thừa nhận: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, tại bản Ỏ, xã HT, huyện ML, tỉnh SL đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 túi Methamphetamine có khối lượng 4,78 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

3

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: CVC đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.

Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thường huân huy chương là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 túi nilon màu xanh; 44 viên (có khối lượng 4,30 gam) Methamphetamine (đều được niêm phong).

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen bạc, BKS 26L1-096.63, xe qua sử dụng. Được xác định là tài sản của anh CVT, khi CVC mang đi mua ma túy, anh CVT không biết, cần trả lại cho anh CVT là có căn cứ chấp nhận.

Về nguồn gốc ma túy CVC khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 1.000.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của CVC, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố CVC phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

4

Xử phạt bị cáo CVC 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 túi nilon màu xanh; 44 viên Methamphetamine, có khối lượng 4,30 (bốn phẩy ba mươi) gam (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 18/12/2023).

Trả cho anh CVT: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh đen bạc, BKS 26L1-096.63, số khung 391XKY110105, số máy JA39E0966518, xe có một gương chiếu hậu trái, thân xe bị xước nhiều vị trí, đèn xi nhan bên trái phía sau bị vỡ, trên yên xe có nhiều vết rách, xe cũ qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy bên trong.

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo CVC phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/3/2024.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ