- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành T, Phạm Chí L và Nguyễn Mạnh Phi H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HSST Ngày: 08-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tài.
Ông K’ Tré.
Thư ký phiên tòa: Ông Trƣơng Quang Vũ – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 07/6/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thành L; Tên gọi khác: Phi L; Sinh năm: 2000 tại tỉnh Lâm Đồng;
NKTT và chỗ ở: Tổ 18, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nam
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12;
Con ông Nguyễn Thành Tâm, sinh năm 1976, hiện trú tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Con bà Tăng Thị Kiều Oanh, sinh năm 1980, hiện trú tại phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
2. Họ và tên: Nguyễn Thành T; Sinh ngày: 22/01/2005 tại tỉnh Lâm Đồng;
NKTT và chỗ ở: Tổ 18, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ học vấn: 09/12;
Con ông Nguyễn Thành Tâm, sinh năm 1976, hiện trú tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Con bà Tăng Thị Kiều Oanh, sinh năm 1980, hiện trú tại phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Họ và tên: Nguyễn Mạnh Phi H; Sinh ngày: 16/9/2006 tại tỉnh Lâm Đồng;
NKTT và chỗ ở: Thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12;
Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Con bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1974, hiện trú tại Thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Họ và tên: Phạm Chí L; Sinh ngày: 20/10/2004 tại tỉnh Lâm Đồng;
NKTT: Tổ 15, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Chỗ ở: Tổ 02, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: Phụ xe; Trình độ học vấn: 06/12;
Con ông Phạm Văn Hưng, sinh năm 1979; Con bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1986, hiện trú tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Ngày 27/4/2023 bị TAND TP. Bảo Lộc xử phạt 24 tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng ” (Bản án số 52/2023/HS-ST)
+ Ngày 10/3/2023 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Quyết định khởi tố bị can số 116)
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/3/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
( Các bị cáo có mặt tại phiên tòa ).
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Mạnh Phi H: Bà Nguyễn Thị Hồng V (mẹ), sinh năm: 1974, ông Nguyễn Văn T (bố), sinh năm: 1979
Địa chỉ: Thôn 15, xã Lộc Thành, Bảo L, Lâm Đồng ( Bà V có mặt ông T vắng mặt ).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh Phi H: Bà Hoàng Thị H- là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ: Số 31A Lê Hồng Phong, phường 2, Tp. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
( Có mặt ).
* Đại diện nơi bị cáo Nguyễn Mạnh Phi H sinh sống: Đại diện trưởng thôn 15, xã Lộc Thành, huyện Bảo L ông Nguyễn Văn Trang, sinh năm 1965
( Có mặt ).
* Người bị hại: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm: 1989
Địa chỉ: Tổ 14, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1986
Địa chỉ: Tổ 15, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
2. Anh Phan Việt V, sinh năm: 2001
Địa chỉ: Thôn 5, xã Lộc Phú, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).
3. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 1989
Địa chỉ: Thôn 4, xã Lộc Phú, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng ( Vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/10/2022, Nguyễn Thành L dùng tài khoản zalo của L tên “Phi L” nhắn tin với tài khoản Zalo tên “Tổng Thuocla Podchill” đặt mua 10 gói thuốc lá có chứa tinh dầu cần sa và tẩm hóa chất với giá 470.000 đồng/1 gói, tổng 10 gói giá 4.700.000 đồng. L lấy số điện thoại 0837377839 của Phạm Chí L gửi cho người bán thuốc lá và nói người bán hàng liên lạc số điện thoại trên để giao hàng (Việc này được sự đồng ý của L). L đặt địa chỉ giao hàng tại số 74 đường H Vương, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ do L tự nghĩ ra, L không biết địa chỉ trên là nhà của ai). L và người bán thỏa thuận khi L nhận được hàng thì L sẽ thanh toán tiền trực tiếp cho người giao hàng. Vào chiều tối ngày 18/10/2022 tại nhà chị Nguyễn Thị Hồng N ( Mẹ của L) ở đường Lạc L Quân, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, khi Nguyễn Thành T (em trai của L), L, Nguyễn Mạnh Phi H, L và Phan Việt V đang ngồi chơi ở phòng khách nhà bà N thì L nói với mọi người “tao đặt hàng rồi nè, khi nào hàng về thì đi tông” (ý của L là L đã đặt hàng thuốc lá loại chill rồi, khi nào hàng về thì cả nhóm cùng đi cướp hàng của shipper) thì không ai có ý kiến gì.
Khoảng 10 giờ ngày 20/10/2022 anh Nguyễn Duy H ( Nhân viên giao hàng) gọi điện thoại cho L, nói L nhận hàng nhưng do L cùng nhóm bạn đang đi đám giỗ nên chưa đi lấy được. Sau đó L có nói với T, H, L và V về việc hàng đã về nhưng hôm nay chưa đi “tông” được, ngày mai sẽ đi, cả nhóm đều hiểu ý L là sẽ đi cướp gói hàng về nhưng không ai có ý kiến gì; chỉ có V không đồng ý việc này.
Đến khoảng 09 giờ 00 ngày 21/10/2022 anh H gọi điện thoại cho L hỏi địa chỉ ở đâu để đến giao hàng, L nói là “từ từ anh ơi để xíu em gọi lại”, do lúc đó L đang cùng L sửa xe gần đó nên L cũng nghe thấy. L vào nhà gặp T, H, L, V tại phòng khách và nói “shipper gọi rồi, giờ đi lấy hàng, thằng nào đi lấy?”. T nói “để em với H đi lấy”, H cũng đồng ý đi với T, không ai có ý kiến gì khác. L trả lời “vậy thì đi đi”. Do T với H đi lấy hàng nên L chủ động tháo sim điện thoại của L và đưa cho T để T gắn vào điện thoại của T để liên lạc với shipper. Sau đó H tự vào nhà L lấy khóa 10 ra tháo biển số xe Vario biển số 49H1-54472 (xe của anh Nguyễn Văn V bạn trai của chị N gửi tại đây) ra và cất ở nhà trọ của L và T. T gọi điện cho shipper để nhận hàng. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở H đi theo đường hẻm 47 Lạc L Quân ra đến cuối đường đôi Minh Rồng thì anh H đã đợi sẵn ở đây. Khi gặp anh H, T và H vẫn ngồi trên xe (xe vẫn đang nổ máy), T cầm lấy gói hàng và mở gói hàng ra xem, sau khi xác nhận đúng là hàng đã đặt thì T đưa gói hàng cho H cầm và T nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy theo hẻm 47 Lạc L Quân về lại nhà trọ của L và T. Trong nhà lúc này có T, L, H, L, V đang ở đây. L trực tiếp mở gói hàng ra xem, bên trong gói hàng có 10 gói thuốc lá loại Podchill. Sau khi kiểm tra hàng xong thì L cầm 10 gói thuốc lá bỏ vào bịch nilon rồi đem cất vào tủ quần áo trong nhà. Sau đó L và L đi làm còn H, T, V vẫn ở nhà L. Khoảng 10 phút sau thì V nói với T “đưa anh một gói đi chiều anh em mình hút”, T đồng ý và vào phòng lấy 01 gói thuốc lá đưa cho V, V cất gói thuốc vào túi và lấy xe Vario đỏ chở bạn gái về phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc rồi V quay lại nhà bà N. Sau khi biết Cơ quan Công an mời lên làm việc, T chở H đến cầu 1, xã Lộc Phú, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vứt các gói thuốc lá xuống suối. Quá trình xác minh, CQĐT tiến hành làm việc thu giữ được 01 gói thuốc bên trong có 07 điếu thuốc tại nhà chị N và trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 6235/KL-KTHS ngày 16/11/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại TP. Hồ Chí Minh kết luận: “Thảo mộc khô đựng trong 07 điếu thuốc lá gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng thảo mộc trong 07 điếu thuốc lá: 8,4466 gam, khối lượng trung bình của thảo mộc trong 01 điếu thuốc lá: 1,2066 gam, loại ADB-BUTINACA.
Tại công văn số 134/C09B ngày 18/01/2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại TP. Hồ Chí Minh xác định “Chất ma túy ADB-BUTINACA trong 07 điếu thuốc lá hiệu Podchill là ở trạng thái rắn được tẩm vào thảo mộc khô. Khối lượng, đặc điểm ma túy của 07 điếu thuốc lá là tương đồng, Phân viện KHHS không xác định được hàm lượng, khối lượng của chất ma túy ADB- BUTINACA có trong 07 điếu thuốc lá do không có mẫu chuẩn định lượng”.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Bảo L, kết luận: Hiện nay đối với thuốc lá nhãn hiệu LUXURY “PLAYBOY” since 2022 không bán trên thị trường, không rõ xuất xứ, nguồn gốc do đó Hội đồng không có cơ sở xác định giá trị của tài sản nên trên.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, không khiếu nại hay tranh luận gì.
- Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Cáo trạng 52/CT-VKSBL ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành T, Phạm Chí L và Nguyễn Mạnh Phi H về tội “ Cướp giật tài sản”, theo khoản 1 điều 171 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 15 đến 18 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Phạm Chí L từ 12 đến 15 tháng tù.
Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 24 tháng tù của bản án số 52/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo Phạm Chí L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 06 đến 09 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Phi H từ 06 đến 09 tháng tù.
- Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
-Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà: 01 điện thoại di động IPhone 13 màu hồng, số Imeil: 357688115013501; Imei2: 357688115226301, gắn số sim: 0333.924.525 của Nguyễn Thành L; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 màu đen, số Imeil: 358465092265712; Imei2: 358466092265710, gắn số sim: 0336560520 của Nguyễn Thành T; 01 điện thoại di động IPhone 12 Pro Max, số Imeil: 356715113612454; số Imei2: 356715113942323 của Phạm Chí L.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đựng bao gói vật chứng trước giám định.
Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 điện thoại di động Iphone 13 PROMAX; số sim: 0375634514; số máy: MLVNIA, số seri: T91R2YKNX2; Số IMEI 1: 353324654817631 cho Phan Việt V; 01 xe máy nhãn hiệu Vario màu đỏ, biển số: 49H1-54472 cho anh Nguyễn Văn V là chủ sở hữu hợp pháp, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với 07 điếu thuốc lá thu giữ đã sử dụng hết trong công tác giám định và 09 bao thuốc lá Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập đến.
-Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo H trình bày bài bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H vì khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bị cáo thật thà khai báo ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo phạm tội lần đầu có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo H được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành T, Phạm Chí L và Nguyễn Mạnh Phi H đã bàn bạc với nhau để chiếm đoạt tài sản (gói hàng là thuốc lá chứa chất ma túy, trị giá 4.752.500 đồng, trong đó giá trị gói hàng là 4.700.000 đồng, tiền vận chuyển giao hàng là 52.500 đồng). Khoảng 09 giờ ngày 21/10/2022 bị cáo T, H điều khiển xe mô tô đến khu vực hẻm 41, đường Lạc L Quân, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L chiếm đoạt gói hàng của anh Nguyễn Duy H rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Chính vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành T, Phạm Chí L và Nguyễn Mạnh Phi H về tội “ Cướp giật tài sản”, theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người bị hại, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa pH, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm nhưng vẫn cố tình vi phạm, do vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Khi phạm tội bị cáo T và bị cáo H là người dưới 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và bị cáo H.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất, mức độ của từng bị cáo như sau: Bị cáo L là người khởi xướng việc cướp dật tài sản, bị cáo L là người cho sử dụng sim điện thoại để các bị cáo liên lạc thực hiện hành vi phạm tội bản thân bị cáo L về nhân thân ngày 27/4/2023 bị TAND TP. Bảo Lộc xử phạt 24 tháng tù về tội “ Gây rối trật tự công cộng ” và ngày 10/3/2023 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” cả hai bị cáo đã thành niên. Bị cáo T và bị cáo H là người thực hiện việc cướp dật tài sản, nên hình phạt của bị cáo L và bị cáo L phải nghiêm khắc hơn bị cáo T và bị cáo H.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập không cao nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận số tiền 4.700.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình:
Điện thoại các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động IPhone 13 màu hồng, số Imeil: 357688115013501; Imei2: 357688115226301, gắn số sim: 0333.924.525 của Nguyễn Thành L; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 màu đen, số Imeil: 358465092265712; Imei2: 358466092265710, gắn số sim: 0336560520 của Nguyễn Thành T; 01 điện thoại di động IPhone 12 Pro Max, số Imeil: 356715113612454; số Imei2: 356715113942323 của Phạm Chí L.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đựng bao gói vật chứng trước giám định.
Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 điện thoại di động Iphone 13 PROMAX; số sim: 0375634514; số máy: MLVNIA, số seri: T91R2YKNX2; Số IMEI 1: 353324654817631 cho Phan Việt V; 01 xe máy nhãn hiệu Vario màu đỏ, biển số: 49H1-54472 cho anh Nguyễn Văn V là chủ sở hữu hợp pháp, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với 07 điếu thuốc lá thu giữ đã sử dụng hết trong công tác giám định và 09 bao thuốc lá Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Các vấn đề khác: Đối với Phan Việt V có nghe, biết nhóm của Nguyễn Thành L đặt 10 bao thuốc lá PodChill và bàn bạc với nhau sẽ đi “tông” tức là đi chiếm đoạt gói hàng nhưng V không đồng ý, không tham gia, bàn bạc, không có ý kiến gì nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Thị Hồng N không biết người đem 01 gói thuốc lá loại Podchill xuống nhà và cũng không biết đó là gói thuốc mà L cùng mọi người đã chiếm đoạt nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Văn V là chủ xe máy 49H1-54472 không biết các đối tượng sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Đối tượng bán 10 gói thuốc cho Nguyễn Thành L Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo L đã có Công văn trao đổi thông tin tội phạm cho Cơ quan CSĐT Công an Quận L Biên, TP Hà Nội để xác minh, làm rõ đối tượng.
Hành vi tàng trữ 07 điếu thuốc lá (thu giữ được) là ma túy, tổng khối lượng thảo mộc trong 07 điếu thuốc lá: 8,4466 gam, loại ADB-BUTINACA có dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên do không xác định được hàm lượng, khối lượng của chất ma túy ADB- BUTINACA có trong 07 điếu thuốc lá nên không có căn cứ để xử lý hình sự các đối tượng trên.
Xét đề nghị của viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.
Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dung khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án cần buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành T, Phạm Chí L và Nguyễn Mạnh Phi H phạm tội: “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 15 ( Mười lăm ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày baét giam thi haønh aùn.
Xử phạt bị cáo Phạm Chí L 12 ( Mười hai ) tháng tù.
Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 24 tháng tù của bản án số 52/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo Phạm Chí L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 09 ( Chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày baét giam thi haønh aùn.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Phi H 09 ( Chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày baét giam thi haønh aùn.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động IPhone 13 màu hồng, số Imeil: 357688115013501; Imei2: 357688115226301, gắn số sim: 0333.924.525 của bị cáo Nguyễn Thành L; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 màu đen, số Imeil: 358465092265712; Imei2: 358466092265710, gắn số sim: 0336560520 của bị cáo Nguyễn Thành T; 01 điện thoại di động IPhone 12 Pro Max, số Imeil: 356715113612454; số Imei2: 356715113942323 của bị cáo Phạm Chí L.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đựng bao gói vật chứng trước giám định.
( Các vật chứng trên theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 07/6/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L với Công an huyện Bảo L ).
3. Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành T, Phạm Chí L và Nguyễn Mạnh Phi H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4 Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo H, người bào chữa cho bị cáo H, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 08/8/2023; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan ).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo L; - Chi cục THADS H Bảo L; - Bị cáo, bị hại, Người liên quan; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tài K’ Tré THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Tài Lƣu Đức V | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Đình Phong Nguyễn Đình Phong THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn L |