- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo: TRƯƠNG CÔNG T, ĐẶNG QUỐC T, DƯƠNG NGỌC D và THỚI VĂN S đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức sử d…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: TRƯƠNG CÔNG T, ĐẶNG QUỐC T, DƯƠNG NGỌC D và THỚI VĂN S đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2023/HS–ST Ngày: 17/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Ba và ông Bùi Quốc Thìn;
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Thanh Vũ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khôi – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2023/TLST –HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST–HS ngày 03 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:
1/ TRƯƠNG CÔNG T, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1997 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: thôn X, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Công T và bà Dương Thị Thanh H; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 9 năm 2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2/ ĐẶNG QUỐC T, sinh ngày 05 tháng 4 năm 1999 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện S, Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn V và bà Huỳnh Thị Kim T; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 9 năm 2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3/ DƯƠNG NGỌC D, sinh ngày 02 tháng 5 năm 1993 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: thôn 2, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương S và bà Nguyễn Thị C; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 9 năm 2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4/ THỚI VĂN S, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2001 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện S, Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông T và bà Nguyễn Thị P; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 9 năm 2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo TRƯƠNG CÔNG T: Luật sư Lê Hoàng Hiếu, thuộc Công ty Luật TNHH MTV Thành Phát; Địa chỉ: Số 195 Phan Bội Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, vừa là những người làm chứng:
1/ Nguyễn Vũ Anh K, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1999; Nơi cư trú: thôn X, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
2/ Phan Thành Đ, sinh ngày 17 tháng 02 năm 1998; Nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
3/ Phan Thành Đ, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2000; Nơi cư trú: thôn C, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
4/ Dương Quyết T, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2001; Nơi cư trú: Xóm N, thôn X, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
5/ Nguyễn Thị M, sinh năm 1979; Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
Người làm chứng: Võ Thị Lệ T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm 4, thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/9/2021, TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T, Dương Quyết T, Nguyễn Vũ Anh K, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N) tổ chức ăn nhậu tại nhà ông nội của DƯƠNG NGỌC D ở xã B, huyện S. Trong lúc ngồi nhậu thì TRƯƠNG CÔNG T rủ cả nhóm sau khi nhậu xong thì đi hát karaoke và “bay”. Trong lúc ngồi nhậu, do bật nhạc lớn nên TRƯƠNG CÔNG T và ĐẶNG QUỐC T đi ra ngoài cùng bàn bạc và liên lạc để mua ma túy. ĐẶNG QUỐC T liên lạc với một đối tượng tên Vương ở thành phố Quảng Ngãi qua Facebook để mua ma túy (T biết V trong một lần hát karaoke tại quán karaoke Hưng Thịnh ở thành phố Quảng Ngãi). Một lát sau, V gọi qua Facebook nói có ma túy, đồng thời đưa số điện thoại cùng số tài khoản của một người tên T cho T và nói chuyển số tiền 9.200.000đồng (chín triệu hai trăm nghìn đồng) vào tài khoản của T rồi điện thoại liên hệ nhận ma túy.
Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhậu xong K và Đ (ở xã B) đi về nhà K ở xã B để K tắm rồi đến quán karaoke Em và Tôi sau, còn lại Th, T, D, Đ (ở huyện N) và Th đi trước đến quán karaoke Em và Tôi do Nguyễn Thị M làm chủ cơ sở kinh doanh ở tại thôn T, xã B thì gặp 01 nhân viên nữ tên H (không rõ lai lịch) đang trông coi quán nên vào hỏi để hát karaoke. Nữ nhân viên tên H dẫn lên phòng số 79, sau đó quay xuống dưới. Khi vào phòng karaoke thì T đưa số tài khoản của T cho Th và D nói chuyển tiền để mua ma túy. Th chuyển số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng) và D chuyển số tiền 4.500.000đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản của Võ Thị Lệ T, sinh năm 1997, ở thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Sau đó, Đ (ở N) và D chạy xe đi mua bánh mì, khoảng 30 phút sau quay lại quán karaoke Em và Tôi. Lúc này trong phòng còn lại 03 người gồm: T, Th và Th. T điện thoại cho THỚI VĂN S nói đi lấy đồ (ma túy) đem xuống karaoke Em và Tôi. T đưa số điện thoại của T để S gọi điện hẹn đến Khu Công nghiệp Visip lấy ma túy. Khi S đến đoạn đường Quốc lộ 1, gần Khu công nghiệp Visip thì có một nam, một nữ đi xe máy đeo kín khẩu trang bỏ ma túy gói trong chiếc khẩu trang xuống đường để cho S lấy rồi bỏ đi.
Sau khi lấy được ma túy, Sơn đem ma túy đến phòng số 79 của quán karaoke Em và Tôi. Lúc này, trong phòng đã có sẵn 01 (một) đĩa sành và 01 (một) thẻ ATM từ trước để ở trên bàn (đĩa sành do nhân viên mang trái cây đem vào phòng và thẻ ATM đã có từ trước trên bàn, không phải do 08 đối tượng sử dụng ma túy bỏ ra), S đem ma túy để trên bàn, D đến bẻ nhỏ viên ma túy bỏ vào đĩa sành. Sau đó, mỗi người tự đến lấy dùng không ai đưa cho ai. Khi dùng hết số ma túy viên (thuốc lắc) trong dĩa thì D lấy ma túy Khay (Katamine) đem vào tolet đốt và đem ra để trên bàn cùng sử dụng chung, khi chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện Bình Sơn phối hợp Công an xã Bình Thạnh và Đồn Biên phòng Bình Thạnh tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang 08 đối tượng đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gồm có: TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T, THỚI VĂN S, Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ, sinh năm 2000 và Phan Thành Đ, sinh năm 1998 (có địa chỉ cư trú như ghi phần trên). Đồng thời, lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra thu giữ nhiều túi ni lông có kích thước khác nhau, bên trong có các chất tinh thể rắn màu trắng (các đối tượng khai nhận là ma túy Khay) và nhiều dụng cụ khác dùng để sử dụng ma túy.
Ngày 09/9/2021, Trung tâm y tế huyện Bình Sơn xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: THỚI VĂN S, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T, TRƯƠNG CÔNG T, Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N) đều cho kết quả dương tính với Methamphetamin và MDMA.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 207/CSĐT ngày 09/9/2021 để trưng cầu giám định các chất ma túy thu giữ được và kết quả giám định như sau:
Tại Kết luận giám định số: 824/KLGĐ-PC09 ngày 15/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:
+ Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi ni lông kích thước (4 x 2) cm được khèn kín ba mặt, một mặt được đóng mở bằng kẹp nhựa có viền màu đỏ trong túi niêm phong mã số NS1A 067206 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu 0,36 gam.
+ Chất bột màu trắng bám dính trong 02 (hai) túi ni lông có kích thước (2,5 x 2,5) cm, 01 túi ni lông kích thước (2 x 2,5) cm và bám dính trên 01 thẻ ATM có chữ TPBank, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000đồng, 01 (một) dĩa sành màu trắng có đường kính 25cm trong túi niêm phong mã số NS1A 067206 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, dạng vết, không cân khối lượng mẫu.
+ Chất bột màu trắng bên trong túi niêm phong mã số NS4A 1778222 trong túi niêm phong mã số NS1A 067206 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu 0,26 gam.
Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số: 272/CT-VKS-BS ngày 18/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S đều về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo: TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S đều về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: TRƯƠNG CÔNG T mức án từ 08 (tám) năm tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; ĐẶNG QUỐC T, DƯƠNG NGỌC D và THỚI VĂN S đều mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đồng (năm nghìn đồng) trong 01 túi niêm phong số: 7NS1A 041543, có chữ ký của ông Huỳnh Minh Nhựt, ông Đỗ Văn B và đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng do các bị cáo sử dụng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 03 máy lửa ga (01 cái màu tím nhãn hiệu Hangphong, 01 cái màu đỏ nhãn hiệu Hangphong và 01 cái màu trắng nhãn hiệu Hoaviet); 01 (một) đĩa sành, 01 (một) thẻ ATM và các vật chứng khác đã được niêm phong trong 01 túi niêm phong số: 7NS1A 041543, có chữ ký của ông Huỳnh Minh N, ông Đỗ Văn B.
Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Nokia màu đen của TRƯƠNG CÔNG T và 01 (một) điện thoại hiệu Nokia màu đen của DƯƠNG NGỌC D, các điện thoại này không phải là công cụ phạm tội nên đề nghị tuyên trả lại cho TRƯƠNG CÔNG T và DƯƠNG NGỌC D.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn đã trả lại 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen cho Nguyễn Vũ Anh K; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu ViVo màu xanh cho Phan Thành Đ (N); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh cho Dương Quyết T; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu hồng cho Phan Thành Đ (B) là đúng pháp luật.
Đối với các đồ vật, vật chứng khác trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn đang quản lý và tiếp tục xử lý trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy theo Quyết định tách vụ án số: 02/QĐ-CSĐT ngày 11/10/2022.
Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N) chỉ là người thụ hưởng, không góp tiền mua ma túy, không chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn không đặt ra xử lý trách nhiệm hình sự đối với những đối tượng này.
Đối với người phụ nữ có tên là H, quá trình điều tra chưa xác định được danh tính, lý lịch, địa chỉ của người này. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Đối với Võ Thị Lệ T, sinh năm 1997, ở tại thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy và quyết định tách vụ án mua bán trái phép chất ma túy để điều tra, xử lý sau nên không giải quyết trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Thị M, chủ cơ sở kinh doanh karaoke Em và Tôi: Qua điều tra xác định, vào chiều ngày 08/9/2021 Nguyễn Thị M không có mặt tại quán karaoke Em và Tôi. Nguyễn Thị M không biết việc đối tượng tên H đồng ý cho các bị cáo hát karaoke và cũng không biết 04 bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng số 79 tại quán karaoke Em và Tôi. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã điều tra làm rõ và không xử lý về trách nhiệm hình sự đối với bà Minh là có căn cứ.
Đối với đối tượng tên Vương: ĐẶNG QUỐC T khai nhận, Tín liên hệ với V mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy và Quyết định tách vụ án mua bán trái phép chất ma túy để điều tra, xử lý sau nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo TRƯƠNG CÔNG T: Người bào chữa thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng, loại hình phạt, định khung hình phạt đối với bị cáo T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn.
Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; có ông ngoại là Dương H là người có công được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba; Bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình đang sống cùng cha, mẹ, vì anh trai đã ra ở riêng; Th có tham gia lực lượng dân quân tự vệ xã Bình Hòa góp phần đóng góp một phần nhỏ cho địa phương nhằm bảo vệ an ninh, trật tự từ tháng 3/2018 đến tháng 3/2021 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo Th có 03 tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đầu khung hình phạt theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự cho bị cáo Th.
Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm nêu trên, không tranh luận, đối đáp bổ sung gì thêm.
Ý kiến tranh luận của các bị cáo:
Bị cáo Th thống nhất toàn bộ nội dung tranh luận của người bào chữa, không tranh luận gì thêm.
Các bị cáo T, D và S không tranh luận gì.
Ý kiến của người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N) đã nhận lại điện thoại mà Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn thu giữ, không khiếu nại, yêu cầu gì khác.
- Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu nhận lại 01 (một) cái đĩa sành mà các bị cáo sử dụng để chứa ma túy.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để sớm đoàn tụ gia đình, làm ăn phụ giúp cha, mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo: TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như tóm tắc ở phần trên; Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời nhận tội của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N); Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 08 tháng 9 năm 2021 tại phòng số 79, quán karaoke Em và Tôi ở thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, các bị cáo TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (loại ma túy Methamphetamin, MDMA và Ketamine) cho 08 người, gồm: TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T, THỚI VĂN S, Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N, tỉnh Quảng Ngãi).
Hành vi phạm tội của các bị cáo như nêu trên gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã B nói riêng và huyện Bình Sơn nói chung. Chất ma túy là chất gây nghiện, có tính chất kích thích thần kinh, không chỉ có tác hại lớn đối với sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân gây ra bao hệ lụy xấu cho bản thân người sử dụng mà còn gia đình người sử dụng ma túy và cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội.
Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chất ma túy là chất mà Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng nhưng vì thỏa mãn nhu cầu trái pháp luật của bản thân mà đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo không những tổ chức cho bản thân các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy mà còn tổ chức cho 04 đối tượng khác gồm: Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ (ở xã B) và Phan Thành Đ (ở huyện N) cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy; điều này thể hiện ý thức của các bị cáo rất xem thường pháp luật.
Xét hành vi và chất ma túy mà các bị cáo TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S tổ chức sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S đều tham gia hoàn thành nghĩa vụ quân sự; Bị cáo DƯƠNG NGỌC D đã từng tham gia trong quân đội, là sỹ quan dự bị tại địa phương; Bị cáo TRƯƠNG CÔNG T tham gia lực lượng dân quân tự vệ xã Bình Hòa từ tháng 3/2018 đến tháng 3/2021, Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng cho 04 (bốn) bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo và quyết định hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo TRƯƠNG CÔNG T, ĐẶNG QUỐC T, DƯƠNG NGỌC D và THỚI VĂN S thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, nảy sinh ý định tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mang tính tự phát (không chuẩn bị trước), không có chủ mưu, cầm đầu. Trong đó, bị cáo Thiện là người đề xướng và góp tiền mua ma túy; Bị cáo T là người liên hệ mua ma túy và là người rủ rê (rủ bị cáo S); Bị cáo D là người góp tiền mua ma túy và là người đốt ma túy (Khay); Bị cáo S là người đi nhận ma túy đem đến để cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy. Do đó, khi quyết định hình phạt cần đánh giá vai trò, tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ đối với từng bị cáo để phân hóa quyết định hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất rất nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu nhận lại 01 (một) cái đĩa sành mà các bị cáo sử dụng để chứa ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy chiếc đĩa sành này.
Tuyên tịch thu ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đồng (năm nghìn đồng) trong 01 túi niêm phong số: 7NS1A 041543, có chữ ký của ông Huỳnh Minh N, ông Đỗ Văn B và tịch thu tiêu hủy các vật chứng do các bị cáo sử dụng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 03 máy lửa ga (01 cái màu tím nhãn hiệu Hangphong, 01 cái màu đỏ nhãn hiệu Hangphong và 01 cái màu trắng nhãn hiệu Hoaviet); 01 (một) đĩa sành, 01 (một) thẻ ATM và các vật chứng khác đã được niêm phong trong 01 túi niêm phong số: 7NS1A 041543, có chữ ký của ông Huỳnh Minh N, ông Đỗ Văn B.
Đối với 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen của TRƯƠNG CÔNG T và 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen của DƯƠNG NGỌC D, các điện thoại này không phải là công cụ phạm tội nên trả lại cho TRƯƠNG CÔNG T và DƯƠNG NGỌC D.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn đã trả lại 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen cho Nguyễn Vũ Anh K; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu ViVo màu xanh cho Phan Thành Đ (Nghĩa Hành); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh cho Dương Quyết T; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu hồng cho Phan Thành Đ (B) là phù hợp.
Đối với các đồ vật, vật chứng khác trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn đang quản lý và tiếp tục xử lý trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy theo Quyết định tách vụ án số: 02/QĐ-CSĐT ngày 11/10/2022.
Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Vũ Anh K, Dương Quyết T, Phan Thành Đ, sinh năm 2000 (ở xã B) và Phan Thành Đ, sinh năm 1998 (ở huyện N) chỉ là người thụ hưởng, không góp tiền mua ma túy, không chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Sơn không đặt ra xử lý trách nhiệm hình sự đối với những đối tượng này nên không xem xét.
Đối với người phụ nữ có tên là H, quá trình điều tra chưa xác định được danh tính, lý lịch, địa chỉ của người này. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Đối với Võ Thị Lệ T, sinh năm 1997, ở tại thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy và quyết định tách vụ án mua bán trái phép chất ma túy để điều tra, xử lý sau nên không giải quyết trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Thị M, chủ cơ sở kinh doanh karaoke Em và Tôi: Qua điều tra xác định, chiều ngày 08/9/2021, Nguyễn Thị M đang dọn dẹp quán thì con bị bệnh nên về nhà cha chồng ở thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để đưa con đi khám bệnh (vì dịch bệnh Covid 19 nên con được gửi ở nhà nội). Lúc này có một người tên là H (nhân viên có lần đến tiếp khách hát karaoke) đến quán chơi nên Nguyễn Thị M nhờ H trông coi quán giúp rồi về cùng chồng chở con đi khám bệnh. Nguyễn Thị M không biết việc đối tượng tên H đồng ý cho các bị cáo hát karaoke và cũng không biết 04 bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng số 79 tại quán karaoke Em và Tôi. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã điều tra làm rõ và không xử lý về trách nhiệm hình sự đối với bà M nên không xem xét.
Đối với đối tượng tên Vương: ĐẶNG QUỐC T khai nhận, Tín liên hệ với V mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy và quyết định tách vụ án mua bán trái phép chất ma túy để điều tra, xử lý sau nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Xét ý kiến tranh luận của người bào chữa cho TRƯƠNG CÔNG T:
Đối với đề nghị về áp dụng pháp luật, tội danh, loại hình phạt, tình tiết giảm nhẹ và xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng đề nghị áp dụng cho bị cáo Thiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có ông ngoại là Dương H là người có công được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba; Bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình là không phù hợp nên không chấp nhận, vì: ông Trương Công T(cha bị cáo) chỉ giao nộp giấy xác nhận của UBND xã Bình Hòa, không giao nộp được bản sao Huân chương kháng chiến hạng ba được Nhà nước tặng thưởng cho cụ Dương H; Cha, mẹ của bị cáo còn trong độ tuổi lao động nên bị cáo không được xem là lao động chính trong gia đình.
Xét ý kiến tranh luận của các bị cáo: Các bị cáo không có tranh luận nên không xét.
Xét ý kiến của người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu nhận lại 01 (một) cái đĩa sành mà các bị cáo sử dụng để chứa ma túy nên không xem xét.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: Về đề nghị áp dụng pháp luật; tội danh; loại hình phạt, mức hình phạt; tình tiết giảm nhẹ, xử lý vật chứng và các vấn đề khác như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Xét lời nói sau cùng của các bị cáo: Hội đồng xét xử chấp nhận giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm đoàn tụ với gia đình, làm ăn phụ giúp gia đình.
Về án phí: Các bị cáo TRƯƠNG CÔNG T, DƯƠNG NGỌC D, ĐẶNG QUỐC T và THỚI VĂN S, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo: TRƯƠNG CÔNG T, ĐẶNG QUỐC T, DƯƠNG NGỌC D và THỚI VĂN S đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.1. Xử phạt TRƯƠNG CÔNG T 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2021.
1.2. Xử phạt ĐẶNG QUỐC T 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2021.
1.3. Xử phạt DƯƠNG NGỌC D 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2021.
1.4. Xử phạt THỚI VĂN S 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2021.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
3.1. Tuyên tịch thu ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đồng (năm nghìn đồng) trong 01 túi niêm phong số: 7NS1A 041543, có chữ ký của ông Huỳnh Minh N, ông Đỗ Văn B và tịch thu tiêu hủy các vật chứng do các bị cáo sử dụng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 03 máy lửa ga (01 cái màu tím nhãn hiệu Hangphong, 01 cái màu đỏ nhãn hiệu Hangphong và 01 cái màu trắng nhãn hiệu Hoaviet), 01 (một) đĩa sành, 01 (một) thẻ ATM và các vật chứng khác đã được niêm phong trong 01 túi niêm phong số: 7NS1A 041543, có chữ ký của ông Huỳnh Minh N, ông Đỗ Văn B theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn có trách nhiệm trả lại cho bị cáo TRƯƠNG CÔNG T 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen và trả lại cho bị cáo DƯƠNG NGỌC D 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo TRƯƠNG CÔNG T, ĐẶNG QUỐC T, DƯƠNG NGỌC D và THỚI VĂN S, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đều có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/6/2023).
| Nơi nhận: - TAND, VKSND, STP tỉnh Q.Ngãi; - Công an; VKSND; CC.THADS huyện B.Sơn; - UBND xã Bình Hòa, UBND xã Bình Thanh; - Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Toại |