vanban.org

Bản án 61/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 19/8/2022 về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V. Sửa bản án sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 19/8/2022 về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị V Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 19/8/2022 về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung Nguyễn Thị H; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/HSPT
Ngày 9-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng; ông Đỗ Văn Hiên

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 9-12-2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 80/2022/TLPT-HS ngày 11/10/2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị H,, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

*Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị H, Tên gọi khác: Nguyễn Thị Hương; sinh năm 1957 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ 4, thị trấn Phhuyện Ph, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Gi (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1927; bị cáo có chồng là Phan Thanh Gi, sinh năm 1952 và có bảy người con lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1993

Tiền án: 01 tiền án: ngày 27/11/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 20 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự (Bản án số 64/2020/HSST)

Tiền sự: không.

Nhân thân: - Ngày 22/10/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xử phạt 27 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 tháng, về các tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Bản án số 25/HSST, đã xóa án tích).

- Ngày 30/9/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự (Bản án số 90/2010/HSPT); chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Ngày 22/9/2011, chấp hành xong hình phạt tù (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2021 đến ngày 30/11/2021 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

2 Nguyễn Thị V. Tên gọi khác: không; sinh năm 1982 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT: thôn 03, thị trấn C, huyện Chtỉnh Gia Lai; chỗ ở: thôn Mỹ Thạch 3, thị trấn C, huyện Chtỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1959; bị cáo có chồng là Dương Công V, sinh năm 1979 và có hai con lớn sinh năm 2003 và nhỏ sinh năm 2006;

Tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 07/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Chtỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự (Bản án số 55/2010/HSST); ngày 09/9/2010, chấp hành xong hình phạt tù (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2021 đến ngày 28/01/2022 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Tiến C, Nguyễn Thị G Trần Trọng T, Trần Ngọc L, Phan Thị H, Tạ Thị H, Võ Thị Ch, Phạm Thị L, Thân Thị Th, Nguyễn Thị N nhưng không có kháng cáo,cũng không bị kháng cáo, kháng nghị

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 40 phút ngày 30/10/2021, tại số nhà 255A đường Cách mạng tháng Tám, tổ 4, phường H, thành phố P, khi Nguyễn Tiến C đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho Phan Thị H, Nguyễn Thị Nh, Trần Trọng T, Phạm Thị L, Trần Ngọc L, Nguyễn Thị V, Tạ Thị H1, Nguyễn Thị H, Võ Thị Ch, Thân Thị Th, Nguyễn Thị G thì bị Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Pleiku phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Qua điều tra, xác định số tiền các bị cáo H, Nh, T, L, L, V, H1, H, Ch, Th, Gia sử dụng để đánh bạc là 26.270.000 đồng; trong đó, C thu tiền xâu được 4.000.000 đồng.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 18/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị V phạm tội “Đánh bạc”

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm tù.

Áp dụng Điều 56, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H: Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 20 tháng tù tại Bản án số 64/2020/HSST ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 2 (Hai) năm 8 (Tám) tháng tù (Được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 31/3/2019 đến ngày 09/4/2019 tại Bản án số 64/2020/HSST ngày 27/11/2020). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. (Được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2021 đến ngày 30/11/2021).

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000 đồng

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. (Được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2021 đến ngày 28/01/2022).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tiến C, Nguyễn Thị G, Trần Trọng T, Trần Ngọc L, Phan Thị H, Tạ Thị H, Võ Thị Ch, Phạm Thị L, Thân Thị Th, Nguyễn Thị Nh ; tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Ngày 24/8/2022 Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Ngày 31/8/2022 Nguyễn Thị V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Diễn biến tại phiên tòaphúc thẩm:

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Hơn cung cấp thêm tài liệu thể hiện bị cáo bị bệnh tổn thương cũ nhu mô não thuỳ thái dương, thoái hoá đa khớp; bị cáo Vân cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo bị vỡ thân đốt sống, thoái hoá cột sống; chú chồng bị cáo là liệt sĩ, bố chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H. Đối với bị cáo Nguyễn Thị V do có phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới tại giai đoạn phúc thẩm nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 2 tháng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định rằng:

Vào lúc 18 giờ 40 phút ngày 30/10/2021, tại số nhà 255A đường Cách mạng tháng Tám, Tổ 4, phường H, thành phố P, Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Tiến C đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền cho Phan Thị Hòa, Nguyễn Thị Nh, Trần Trọng T, Phạm Thị L, Trần Ngọc L, Nguyễn Thị V, Tạ Thị H, Nguyễn Thị H, Võ Thị Ch, Thân Thị Th, Nguyễn Thị G. Qua điều tra, xác định số tiền các bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc là 26.270.000 đồng; trong đó, C thu tiền xâu được 4.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Công về tội “tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và các bị cáo H1, N, T, L, L, V, H, ch, Th, G về tội “đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị V, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với bị cáo Nguyễn Thị H: khi tham gia đánh bạc, bị cáo sử dụng số tiền 1.500.000 đồng, nhiều thứ tư trong số các bị cáo tham gia đánh bạc khác, tham gia đánh từ đầu cho đến khi bị phát hiện bắt quả tang. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo bị bệnh nền tăng huyết áp, thoái hoá đa khớp, từng phẩu thuật bệnh túi phình động mạch thông trước và tổn thương cũ nhu mô não thuỳ thái dương. Tuy nhiên, bị cáo có một tiền án về tội đánh bạc, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm; mặc khác nhân thân bị cáo từng hai lần bị xét xử cũng về tội đánh bạc nhưng không xem đó làm bài học và rèn luyện bản thân, Toà án sơ thẩm xử phạt bị cáo 1 năm tù là nhẹ. Kháng cáo của bị cáo Hơn không được chấp nhận.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị V: khi tham gia đánh bạc, bị cáo sử dụng số tiền ít, là 200.000 đồng, chỉ cao hơn bị cáo Là là 170.000 đồng, Gia là 150.000 đồng, Nhật và Thanh là 100.000 đồng, và thấp hơn nhiều so với các bị cáo còn lại. Toà án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt dành cho bị cáo đã xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, được địa phương xác nhận là lao động chính trong gia đình và căn cứ nhân thân bị cáo từng bị xét xử 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để tuyên bị cáo mức hình phạt 9 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện chú chồng bị cáo là Liệt sĩ, bố chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Xét nội dung kháng cáo và căn cứ chứng minh cho kháng cáo của bị cáo là có căn cứ nên hội đồng xét xử sẽ chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ môt phần hình phạt đối với bị cáo Vân.

Kháng cáo của bị cáo Hơn không được chấp nhận nên bị cáo Hơn phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, kháng cáo của bị cáo Vân được chấp nhận nên bị cáo Vân không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên,

T ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 19/8/2022 về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”

Áp dụng Điều 56, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H: Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 20 tháng tù tại Bản án số 64/2020/HSST ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 2 (Hai) năm 8 (Tám) tháng tù (Được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 31/3/2019 đến ngày 09/4/2019 tại Bản án số 64/2020/HSST ngày 27/11/2020). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. (Được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/10/2021 đến ngày 30/11/2021).

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000 đồng

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị V. Sửa bản án sơ thẩm số 104/2022/HSST ngày 19/8/2022 về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị V

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. (Được trừ đi thời gian từ ngày 31/10/2021 đến ngày 28/01/2022).

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm .

Bị cáo Nguyễn Thị V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm .

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ