vanban.org

Bản án 61/2022/DS-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Tấn V. Buộc ông Lưu Minh N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Tấn V tổng số tiền là 33.

Kể từ ngày ông Nguyễn Tấn V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lưu Minh N không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Tấn V. Buộc ông Lưu Minh N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Tấn V tổng số tiền là 33.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2022/DS-ST
Ngày: 28 – 3 – 2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Minh;

Bà Cao Hồng Cẩm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 390/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2022, về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1978 (có mặt).

Nơi cư trú: Khóm 4, phường X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lưu Minh N, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm 4, phường X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn V trình bày:

Vào ngày 07/7/2021, ông có cho ông Lưu Minh N vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất là 02%/tháng. Thời hạn vay 02 tháng; mục đích vay phục vụ cho nhu cầu cá nhân của ông Nhựt. Khi nhận tiền vay ông Lưu Minh N có viết biên nhận ngày 07/7/2021 cho ông. Từ khi vay đến nay ông Lưu Minh N không thanh toán lãi và cũng không trả tiền vốn cho ông. Ông đã yêu cầu ông Lưu Minh N trả tiền nhiều lần nhưng ông Lưu Minh N không thực hiện. Nay ông Nguyễn Tấn V yêu cầu ông Lưu Minh N thanh toán cho ông số tiền vốn 30.000.000 đồng, và lãi suất tính từ ngày vay tiền 07/7/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 28/3/2022 là 08 tháng 21 ngày, nhưng ông tính tròn là 08 tháng, theo lãi suất của nhà nước quy định là 1,66%/tháng, bằng số tiền 3.984.000 đồng.

Đối với ông Lưu Minh N trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập đương sự để xét xử hợp lệ, song ông Lưu Minh N vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay và tiền lãi phát sinh theo quy định pháp luật, do đó tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền của Tòa án giải quyết: Bị đơn Lưu Minh N có nơi cư trú khóm 4, phường X, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý và đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Lưu Minh N đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

Về nội dung vụ án:

Về nội dung tranh chấp: Ngày 07/7/2021, ông Nguyễn Tấn V có cho ông Lưu Minh N vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất là 2%/tháng. Thời hạn vay 02 tháng. Khi nhận tiền vay ông Lưu Minh N có viết biên nhận ngày 07/7/2021. Từ khi vay đến nay ông Lưu Minh N không thanh toán lãi và cũng không trả tiền vốn cho ông. Ông đã yêu cầu ông Lưu Minh N trả tiền nhiều lần nhưng ông Lưu Minh N không thực hiện nên hai bên phát sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lưu Minh N trả số tiền vốn 30.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử thấy rằng việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 30.000.000 đồng và bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án theo quy định nhưng bị đơn không có ý kiến gì về thời gian vay tiền, có viết biên nhận nợ hay không và không phản đối việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nêu trên nên ngày 07/7/2021, nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 02%/tháng và bị đơn có viết biên nhận ngày 07/7/2021 cho nguyên đơn là thực tế có xảy ra. Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn vay là 30.000.000 đồng và xác định đây là khoản vay của cá nhân bị đơn nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền này. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 30.000.000 đồng nhưng bị đơn không phản đối đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự cho nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn trên số tiền vốn 30.000.000 đồng theo mức lãi suất của nhà nước quy định.

Hội đồng xét xử thấy rằng, tại biên nhận ngày 07/7/2021 thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận lãi suất nhưng không thể hiện rõ mức lãi suất bao nhiêu nhưng tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 07/7/2021 đến ngày xét xử là ngày 28/3/2022 là 08 tháng 21 ngày nhưng tính 08 tháng, theo mức lãi suất 1,66%/tháng trên số tiền 30.000.000 đồng, bằng số tiền 3.984.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định “…lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay...Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.

Đối chiếu với quy định nêu trên, xét thấy yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải chịu theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Tấn V. Buộc ông Lưu Minh N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Tấn V tổng số tiền là 33.984.000 đồng, trong đó tiền vốn là 30.000.000 đồng, tiền lãi 3.984.000đồng.

Kể từ ngày ông Nguyễn Tấn V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lưu Minh N không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.699.000 đồng ông Lưu Minh N phải nộp (chưa nộp). Ông Nguyễn Tấn V không phải chịu án phí, vào ngày 08/11/2021 ông Nguyễn Tấn V đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 780.000 đồng (theo lai thu số 0000577) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được hoàn lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêù 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ