- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn P Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 61/2017/HSST. Ngày: 26/09/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các hội thẩm:
1. Ông: Pờ Pó Chừ
2. Bà: Pờ Hồng Vân
Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Lâm Thị Tuyết, cán bộ Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường tè tham gia phiên toà: Ông Lê Trọng Bính, kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai châu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2017/HSST, ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo: Lò Văn Pản - Tên gọi khác: Hà Văn Pản và Hà Văn Vinh. Sinh năm 1990, tại Tà Mít, Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKNKTT: bản Ít Luông, xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở hiện nay:Tạm trú tại bản Seo Hai, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ văn hoá: không. Con ông: Lò Văn Hon – sinh năm 1970; Con bà: Lường Thị Chiêng – sinh năm 1972; Bố nuôi: Hà Văn Phương - sinh năm: 1966, Mẹ nuôi: Lò Thị Đăm - sinh năm: 1967. Vợ : khi ở xã Nậm Sỏ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, bị cáo chung sống với chị Lò Thị Nghiêm (không nhớ năm chung sống); ở bản Hay, xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, bị cáo chung sống với chị Quàng Thị Ương - sinh năm: 1995; Năm 2015 bị cáo đến bản Seo Hai, xã Kan Hồ, Mường Tè, Lai Châu, chung sống với chị Lý Cố Vơ - sinh năm: 1985. Chung sống với Lò Thị Nghiêm bị cáo có 2 con chung, chung sống với Lỳ cố Vơ bị cáo có 1 con chung. Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số: 20, ngày 23/5/2017 do công an huyện Mường Tè lập.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mường tè - Có mặt.
* Người bị hại: Đỗ Văn Lâm - Sinh năm: 1960
Địa chỉ: khu phố 7, thị trấn Mường Tè, huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu – có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà : Pờ Cố Ky- Sinh năm: 1965
Địa chỉ: Bản Seo Hai, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Có Mặt
2. Anh: Hù Chà Thường - Sinh năm: 1983
Địa chỉ: Bản Seo Hai, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Có mặt
3. Chị: Lùng Thị Phượng - Sinh năm: 1994
Địa chỉ: Bản Seo Hai, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Có mặt
4. Anh: Đinh Văn Quỳnh - Sinh năm: 1988
Địa chỉ: khu phố 9 thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.
NHẬN THẤY;
Bị cáo Lò Văn Pản ( tên gọi khác Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường tè, truy tố về hành vi phạm tội như sau: Ngày 18/4/2017 cơ quan Công an huyện Mường tè nhận được đơn trình báo của ông Đỗ Văn Lâm; trú tại khu phố 7, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu về việc mất trộm tài sản tại lán làm gạch của ông tại bản Pô Lếch, xã Kan Hồ (cũ), huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đồng thời ông trình bày ông phát hiện một số tài sản bị mất ở nhà anh Đinh Văn Quỳnh; trú tại khu phố 9 thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra đã xác định như sau: Vào khoảng đầu tháng 03/2017, Lò Văn Pản (Vinh), trú tại: Kan hồ, Mường Tè lai Châu, một mình điều khiển xe máy lên khu vực lò gạch cũ của Đỗ Văn Lâm, thuộc xã Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến nơi Pản đi thẳng vào lán của Đỗ Văn Lâm, thấy không có người trông coi, Pản đi vào trong lán lấy trộm một máy xuồng, loại máy YAMAHA. Sau khi trộm cắp được Pản đem về Kan Hồ bán cho một người phụ nữ tên là Loan với giá 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng), tiếp theo cách khoảng 9 đến 10 ngày, Lò Văn Pản ( Vinh) lái xuồng chở Pờ cố Ky, Lùng Thị Phượng, Hù Chà Thường đi chuyển dây "máu chó" mà trước đó đã cắt sẵn, do trời mưa nên Pản nói" Trời mưa nên không chuyển được dây máu chó, hay bọn mình đi tìm sắt vụn về bán". Nghe Pản ( Vinh) nói vậy, Cố Ky, Phượng, Thường đều đồng ý. Pản lái xuồng đến chỗ bãi lò gạch hôm trước trộm máy xuồng để trộm cắp tài sản, khi đến nơi Pản chỉ cho Cố Ky, Phượng và Thường số tài sản gồm 01 ( một) củ điều tốc, được gắn với giá sắt, 01 ( một) máy đùn gạch đã han rỉ; khi nhìn thấy Cố ky, Phượng, Thường đều cho rằng đây là sắt vụn, mặt khác để lấy được tài sản Pản (Vinh) nói: " sắt này là người ta bỏ đi rồi, trước đó tôi đã lấy một lần rồi, không sao đâu". Tin lời Pản, Cố Ky, Phượng, Thường đã khiêng lên xuồng và đem về bán cho Đinh Văn Quỳnh với số tiền 800.000đ ( tám trăm nghìn đồng), số tiền trên Pản ( Vinh) chia cho mỗi người 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng). Tiếp đó cách khoảng một tuần sau, Lò Văn Pản một mình điều khiển xe máy lên địa điểm nói trên với mục đích tiếp tục lấy tài sản. Khi đến nơi, quan sát xung quanh không có người trông coi, Pản ( Vinh) lấy trộm một đầu máy nổ loại 24 và 02 (hai) chiếc máy bơm nước, Pản đem số tài sản trên về bán cho một người phụ nữ tên là Loan ở Kan Hồ với số tiền 400.000đ ( bốn trăm nghìn đồng). Qua việc định giá, xác định giá trị tài sản, tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL – HĐ ĐGTS, ngày 09/5/2017 của Hội đồng định giá huyện Mường Tè đã xác định:
- 01 (một) củ điều tốc bằng sắt, hình hộp màu xanh nhạt mua năm 2013 có giá trị 3.500.000đồng ( ba triệu năm trăm nghìn đồng);
- 01 (một) một máy đùn gạch bằng sát, bên ngoài đã han rỉ có trọng lượng 300 kg có giá trị 1.050.000đồng( một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
- 02 ( hai) máy bơm nước nhãn hiệu Phương dũng, công xuất 03 kw mua năm 2013 có giá trị 1.875.000đồng ( một triệu tám trăm bẩy mươi năm nghìn).
- 01 ( một) máy phát điện ( loại máy ngồi) công xuất 03 kw, mua năm 2013, có giá trị 1.125.000đồng ( một triệu một răm hai mươi năm nghìn).
- 01 (một) đầu máy nổ 24 (loại máy sát) nhãn hiệu TRANG TRAI do Trung Quốc sản xuất, có giá trị 402.500đồng ( bốn trăm linh hai nghìn năm trăm đồng).
- 01 ( một) máy xuồng YAMAHA, loại máy 40 mã lực, không có chân vịt, có giá trị 22.000.000đồng( hai mươi hai triệu đồng). Tổng giá trị tài sản là 29.952.500đồng (hai mươi chín triệu chín trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Tại bản cáo trạng số: 38/KSĐT - HS, ngày 11/9/2017, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường tè đã Truy tố bị cáo Lò Văn Pản ( tức Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) về tội: " Trộm cắp tài sản ", theo khoản 1 điều 138 BLHS.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Pản ( tức Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) khai: Vào khoảng đầu tháng 03/2017, Pản (Vinh) một mình đi xe máy đi lên khu vực lò gạch thuộc bản Pô Lếch, Kan Hồ ( cũ) với mục đích là đi trộm cắp sắt, khi đến nơi Pản ( Vinh) quan sát không có người trông coi, Pản ( Vinh) đi thẳng vào trong lán, nhìn thấy một đầu máy xuồng để trên sàn giường, Pản (Vinh) liền bê máy xuồng ra cho lên xe máy chở về Kan Hồ, về đến nơi Pản ( Vinh) đem đến nhà chị Loan hỏi" chị ơi, chị có mua sắt vụn không", Loan trả lời "có", khi nhìn thấy đầu máy xuồng, Loan có hỏi Pản (Vinh) " đây có phải đồ ăn trộm không", Pản ( Vinh) trả lời " không phải mà em nhặt được trên bãi lò gạch", nghe vậy Loan nhất trí mua và đưa cho Pản (Vinh) 300.000đồng ( ba trăm nghìn đồng). Sau đó cách khoảng 9 đến 10 ngày Pản (Vinh) cùng với mẹ vợ là Pờ Cố Ky, Phượng, Thường đi chở dây máu chó thuộc khu vực bản Pô Lếch, nhưng do trời mưa nên Pản ( Vinh) nói: " Trời mưa không đi chuyển dây máu chó được đâu, bọn mình đi nhặt sắt vụn để bán lấy tiền", nghe Pản (Vinh) nói vậy mọi người đồng ý, Pản ( Vinh) lái xuồng đi thẳng đến chỗ hôm trước lấy trộm máy xuồng, khi đến nơi Pản (Vinh) chỉ vào các tài sản để trước lán bảo Pờ Cố Ky, Phượng, Thường lên lấy; Pờ Cố Ky, Phượng, Thường nói: "sắt của người ta đấy đừng có lấy", nghe vậy Pản ( Vinh) bảo "cứ lấy đi không sợ đâu, hôm trước cũng lấy rồi", do vậy mọi người tin và tập trung tháo cục sắt mầu xanh được gắn trên giá sắt và một chiếc máy đùn gạch khiêng xuống thuyền rồi chở vào khu phố 9 thị trấn Mường Tè, bán cho Đinh Văn Quỳnh được 800.000đồng ( tám trăm nghìn đồng), bán được Pản (Vinh) chia cho mỗi người 200.000đồng. Tiếp sau đó cách một tuần sau Pản( Vinh) tiếp tục lấy xe máy đi đến địa điểm trên với mục đích đi trộm cắp tài sản, đi đến nơi Pản (Vinh) nhìn thấy 01 đầu máy sát, 02 máy bơm, quan sát xung quanh không thấy có ai, Pản ( Vinh) bê đầu máy sát lên xe máy chở về nhà chị Loan ở Kan Hồ bán, nhưng chị loan bảo bận nên Pản (Vinh) để bên ngoài nhà chị Loan, rồi đi về nhà ăn cơm, ăn cơm xong Pản( Vinh) tiếp tục đi xe máy đi lên lấy tiếp 02 chiếc máy bơm đem về bán cho chị Loan, máy sát và 2 chiếc máy bơm Pản (Vinh) bán được 400.000đồng ( bốn trăm ngàn đông). Còn chiếc máy phát điện ( loại máy ngồi) công xuất 03 kw Pản (Vinh) không lấy.
Người bị hại ông Đỗ Văn Lâm khai: Vào khoảng tháng 12/2015, ông có chở một số đồ đạc cất ở lò gạch của ông ở bến Pô Lếch gồm: 04 ( bốn) bộ điều tốc; 02 ( hai) máy bơm nước; 01( một) đầu nổ loại 24; 01 (một) máy nổ loại máy ngồi 03kw; 01 ( một ) máy đùn gạch; 01(một) máy xuồng loại YAMAHA 40 mã lực ( đã tháo chân máy) toàn bộ tài sản trên ông để ở trước cửa lán, máy xuồng và máy phát điện ông để trong lán, sau khi để tài sản ông thường xuyên đi qua để kiểm tra. Đến tháng 2/2017 (âm lịch) có anh Sơn Bang hỏi mượn máy phát điện 3 kw, ông nhất trí và bảo anh Sơn Bang ra chỗ lán lấy. Khi anh Sơn Bang ra để lấy máy nổ thì thông tin lại cho ông là mất hết rồi không còn cái gì, nhận được thông tin ông có ra kiểm tra, ông phát hiện tài sản trên đã bị mất, qua nắm thông tin thì ông phát hiện 01 ( một) củ điều tốc và 01 ( một) máy đùn gạch đang ở xưởng nhà anh Đinh Văn Quỳnh, tại khu phố 9 thị trấn Mường Tè, còn máy xuồng và tài sản khác theo thông tin do anh Hòa Loan ở Kan Hồ, Mường Tè, Lai Châu mua, ông ra hỏi thì anh Hòa Loan nói đã bán sắt vụn hết không còn nữa. Hiện tại 01( một) củ điều tốc và một máy đùn gạch đã được cơ quan điều tra thu giữ và trả lại cho ông, ông không có yêu cầu bồi thường gì về những tài sản này, đối với 01 ( một) máy phát điện ( loại máy ngồi) công xuất 03 kw, mua năm 2013, có giá trị 1.125.000đồng ( một triệu một trăm hai mươi năm nghìn) tại phiên tòa Pản không thừa nhận và không có cơ sở chứng minh ông không yêu cầu bị cáo bồi thường; còn lại các tài sản gồm:
- 02 ( hai) máy bơm nước nhãn hiệu Phương Dũng, công xuất 03 kw mua năm 2013 có giá trị 1.875.000đồng ( một triệu tám trăm bẩy mươi năm nghìn).
- 01 (một) đầu máy nổ 24 (loại máy sát) nhãn hiệu TRANG TRAI do Trung Quốc sản xuất, có giá trị 402.500đồng ( bốn trăm linh hai nghìn năm trăm đồng).
- 01 ( một) máy xuồng YAMAHA, loại máy 40 mã lực, không có chân vịt, có giá trị 22.000.000đồng( hai mươi hai triệu đồng). Tổng giá trị tài sản là: 24.277.500đồng. Ông đề nghị bị cáo Lò Văn Pản ( tức Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) phải bồi thường cho ông theo giá trị mà hội đồng định giá đã định giá.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Pờ Cố Ky, chị Lùng Thị Phượng, anh Hù Chà Thường đều khai, vào khoảng giữa tháng 03/2017, có đi cùng với Lò Văn Pản ( Vinh) đi vận chuyển dây máu chó, nhưng do trời mưa nên Pản ( Vinh) rủ đi tìm sắt vụn về bán, sau khi tất cả đều đồng ý, Pản ( Vinh) đưa mọi người đến bãi lò gạch không có người trông coi Pản (Vinh) chỉ vào đống sắt bảo mọi người lên khiêng xuống thuyền, mọi người có hỏi lại " của người ta đấy đừng có lấy", thì Pản (Vinh) bảo đây là sắt vụn, người ta bỏ rồi, hôm trước Pản (Vinh) cũng đã lấy, do vậy Pờ Cố Ky, Phượng, Thường tin đây là sắt vụn và cùng nhau khiêng lên thuyền chở về khu phố 9, thị trấn Mường Tè bán cho Đinh Văn Quỳnh với giá 800.000đồng, sau khi bán được Pản ( Vinh) chia cho mỗi người 200.000đồng.
Anh Đinh Văn Quỳnh trong quá trình điều tra khai: Vào khoảng giữa tháng 3/2017, Quỳnh đang ở nhà thì có một người đàn ông đến hỏi Quỳnh có mua sắt vụn không", Quỳnh có hỏi là "sắt loại gì", người đàn ông này trả lời "sắt máy hỏng, hiện đang để dưới thuyền", nghe lời của người đàn ông này, Quỳnh đi theo ra xem, ra đến nơi thì nhìn thấy có 2 người phụ nữ, 1 người đàn ông đang đưa thuyền vào bờ, Quỳnh có hỏi "đây có phải là đồ ăn cắp không", cả 4 người đều trả lời không phải, Quỳnh có hỏi thêm "có phải đồ của ông Lâm hay không, cái máy đùn gạch này ở đây chỉ có ông Lâm mới có", cả 4 người tiếp tục trả lời không phải, sau đó người đàn ông tên Vinh có trả lời thêm "là máy đùn gạch này chúng em nhặt ở Kan Hồ, nước dâng người ta bỏ đi". Nghe vậy Quỳnh đồng ý mua, khi đưa ra khỏi thuyền để cân, do nặng nên thuyền lật cả cục sắt chìm xuống nước, vì không cân được nên người đàn ông tên Vinh thỏa thuận đưa trước giá 800. 000đồng, khi nào nước rút thì vớt lên cân tính toán cụ thể. Được khoảng một thời gian Quỳnh tời số sắt nói trên để ở cổng xưởng và bị cơ quan Công an huyện Mường Tè thu giữ. Hiện tại số tài sản trên đã trả cho ông Đỗ Văn Lâm, Quỳnh không có ý kiến gì, đối với số tiền 800.000 đã mua sắt, anh không yêu cầu bồi thường.
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Pản ( tức Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh phạm tội trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 138, điểm g khoản 1 điều 48; điểm p khoản 1 điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù, đến 02 ( hai) năm tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc trao trả tài sản của cơ quan công an huyện Mường Tè; đề nghị trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động MASSTEL, đã qua sử dụng. Về bồi thường dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của người bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường số tài gồm: 02 ( hai máy bơm nước nhãn hiệu Phương dũng, 01 (một) đầu máy nổ 24 (loại máy sát) nhãn hiệu TRANG TRAI do Trung Quốc sản xuất, 01 (một) máy xuồng YAMAHA, loại máy 40 mã lực với tổng giá trị tài sản theo định giá là 24.227.000đồng. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo Lò Văn Pản ( tên gọi khác Hà Văn Pản ; Hà Văn Vinh) tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với mọi tài liệu chứng cứ, phù hợp lời khai của người bị hại, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử khẳng định: Vì mục đích tư lợi bất chính, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, vào khoảng đầu tháng 03/2017, Lò Văn Pản (Vinh) một mình đi xe máy lên khu vực lò gạch của ông Đỗ Văn Lâm với mục đích là đi trộm cắp tài sản, khi đi đến nơi do không có người trông coi Pản (Vinh) đã trộm cắp một đầu máy xuồng loại 40 mã lực có giá trị 22.000.000đồng ( hai mươi hai triệu đồng) về bán cho một người tên Loan ở Kan Hồ lấy 300.000đồng ( ba trăm nghìn đồng). Tiếp đó đến giữa tháng 3/2017, do trời mưa không đi chở được dây máu chó Pản (Vinh) đã rủ Pờ Cố Ky, Lùng Thị Phượng, Hù Chà Thường với mục đích là đi lên bãi lò gạch (chỗ hôm trước) để trộm cắp tài sản. Để lấy được tài sản, khi đến nơi Pản (Vinh) chỉ vào 01 củ điều tốc mầu xanh, 01 máy đùn gạch (có tổng giá trị là 4.550.000đồng) nói dối với Ky, Phượng, Thường là sắt vụn người ta bỏ đi, đồng thời nói với mọi người là mấy hôm trước đã lấy rồi, không sao đâu, nên Ky, Phượng, Thường tin rằng đây là sắt vụn, đã cùng với Pản (Vinh) lấy về bán cho anh ĐinhVăn Quỳnh, ở khu phố 9, thị trấn Mường Tè lấy 800.000đồng. Do chưa bị phát hiện nên cách một tuần sau đó Pản( Vinh) một mình lấy xe máy đi lên khu vực nói trên để tiếp tục trộm cắp tài sản, khi đến nơi nhìn thấy không có người trông coi Pản ( Vinh) đã lấy trộm 01 (một) đầu máy sát có giá trị 402.500đồng, 02 (hai) máy bơm nước loại 03kw có giá trị 1.875.000đồng, Pản (Vinh) đem về bán cho một người tên là Loan ở Kan Hồ lấy 400.000đồng.
Như vậy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của Lò Văn Pản đã đủ yếu tố cấu thành tội: ”trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 điều 138 BLHS. Khoản 1 điều 138 BLHS quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần phải xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về nhân thân năm 2012, Lò Văn Pản ( Vinh) bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xử phạt 6 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số: 40/HSST, ngày 20/5/2012, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, bị cáo đương nhiên được xóa án tích. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, vào đầu tháng 03/2017, bị cáo trộm cắp 01 (một) máy xuồng có giá trị 22.000.000đồng; vào giữa tháng 03/2017, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp 01 củ điều tốc, 01 máy đùn gạch có tổng giá trị 4.550.000đồng; Tiếp đó đến cuối tháng 03/2017 bị cáo lại trộm cắp 01 máy sát có giá trị 402.500đồng, 02 ( hai) máy bơm nước có giá trị 1.875.000đồng, tổng giá trị tài sản là 2.227.500đồng, như vậy khẳng định bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 điều 48 BLHS cần phải áp dụng đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Pờ Cố Ky, anh Hù Chà Thường, chị Lùng Thị Phượng là những người cùng thực hiện hành vi với Lò Văn Pản (Vinh) trộm cắp 01 củ điều tốc, 01 máy đùn gạch của ông Đỗ Văn Lâm, nhưng Vàng Cố Ky, Hù Chà Thường, Lùng Thị Phượng tin lời của Lò Văn Pản ( Vinh) nên nhầm tưởng đây là sắt vụn bỏ đi. Do vậy không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Pờ Cố Ky, Hù Chà Thường, Lùng Thị Phượng về tội "Trộm cắp tài sản" với vai trò là đồng phạm với Lò Văn Pản (Vinh) là đúng quy định pháp luật. Đối với anh Đinh Văn Quỳnh là người mua lại 01 củ điều tốc, 01 máy đùn gạch khi mua anh hoàn toàn không biết đây là tài sản trộm cắp, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Đinh Văn Quỳnh về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" là có căn cứ Hội đồng xét xử không xem xét. Theo lời khai của bị cáo còn có một người tên là Loan ở Kan Hồ, Mường Tè, Lai Châu, qua xác minh ở Kan Hồ có một người phụ nữ tên là Loan, hiện tại người này đã bỏ đi khỏi nơi tạm trú, không ai biết đi đâu làm gì nên không thể điều tra, xác minh được đối với người này.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, không có tài sản gì lớn. HĐXX xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với một chiếc xe máy hiệu YAMAHA, nhãn hiệu SIRIUS màu đen, trắng biển kiểm soát 29 R8 - 4513 kèm theo 01 đăng ký xe mang tên Lò Văn Quyết đây là tài sản hợp pháp của Lý Cố Vơ, trú tại: bản Seo Hai, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, do Lò Văn Pản (Vinh) lấy đi trộm cắp tài sản Vơ không biết, do vậy việc trao trả tài sản là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận quyết định trao trả tài sản số: 38/KSĐT ngày 11/9/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè. Đối với 01 củ điều tốc, 01 máy đùn gạch thu giữ tại xưởng của anh Đinh Văn Quỳnh đây là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn Lâm, Hội đồng xét xử chấp nhận việc trao trả tài sản của cơ quan Điều tra công an huyện Mường Tè theo quyết định trao trả tài sản và biên bản trao trả tài sản ngày 04/7/2017. Ngoài ra còn 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL N561, đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn Pản ( Vinh) không liên quan đến vụ án cần phải trả lại cho bị cáo.
Về bồi thường dân sự: Đối với những tài sản gồm: 01 củ điều tốc, 01 máy đùn gạch ông Đỗ Văn Lâm đã nhận lại, ông không yêu cầu bồi thường thêm, Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tài sản bao gồm: 02 ( hai) máy bơm nước nhãn hiệu Phương dũng, 01 (một) máy phát điện ( loại máy ngồi) công xuất 03 kw, 01 (một) đầu máy nổ 24 (loại máy sát) nhãn hiệu TRANG TRAI do Trung Quốc sản xuất, 01 (một) máy xuồng YAMAHA loại 40 mã lực, với tổng giá trị tài sản theo định giá là 24.277.500đồng do Lò Văn Pản (Vinh) lấy trộm hiện nay không còn nữa, ông Đỗ Văn Lâm yêu cầu bị cáo bồi thường, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là yêu cầu hợp pháp có căn cứ cần phải chấp nhận buộc bị cáo do Lò Văn Pản (Vinh) phải bồi thường toàn bộ số tài sản cho ông Đỗ Văn Lâm gồm: 02 ( hai) máy bơm nước nhãn hiệu Phương dũn, 01 (một) đầu máy nổ 24 (loại máy sát) nhãn hiệu TRANG TRAI do Trung Quốc sản xuất, 01 (một) máy xuồng YAMAHA, loại máy 40 mã lực có giá trị 22.000.000đồng, tổng giá trị là 24.277.500đồng ( hai mươi bốn triệu hai trăm bẩy mươi bẩy nghìn năm trăm đồng).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1, khoản 3 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khoá 14 ngày 30/12/2016, về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Lò Văn Pản (Vinh) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch tương ứng với số tiền bồi thường là 24.277.500đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Pản ( tên gọi khác Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) phạm tội " Trộm cắp tài sản "; Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm g khoản 1 điều 48, điểm p khoản 1 điều 46; Điều 33; Điều 45 BLHS; Điều 99 và Điều 234 BLTTHS; Điều 584, 585, 589 BLDS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH Khoá 14, ngày 30/12/2016, về án phí, lệ phí.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Pản ( tên gọi khác Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) 2 năm tù tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 19/5/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lò Văn Pản ( Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) 01(một) chiếc điện thoại di động nhã hiệu MASSTEL N561, đã qua sử dụng.
3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự dân sự: Buộc bị cáo Lò Văn Pản ( tên gọi khác Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) phải bồi thường cho ông Đỗ Văn Lâm, địa chỉ: khu phố 7, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tổng số tiền là 24.277.000đồng, tương ứng với số tài sản bị mất gồm: 02 ( hai máy bơm nước nhãn hiệu Phương dũng có giá trị 1.875.000đồng( một triệu tám trăm bẩy mươi năm nghìn đồng), 01 (một) đầu máy nổ 24 (loại máy sát) nhãn hiệu TRANG TRAI do Trung Quốc sản xuất có giá trị 402.000đồng ( bốn trăm không hai nghìn năm trăm đồng), 01 (một) máy xuồng YAMAHA, loại máy 40 mã lực có giá trị 22.000.000đ( hai mươi hai triệu đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4 .Về án phí: áp dụng điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH khoá 14 ngày 30/12/2016, về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Lò Văn Pản ( tên gọi khác Hà Văn Pản; Hà Văn Vinh) phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 5% án phí dân sự giá ngạch tương ứng với 24.277.500đồng là: 1.213.000đồng (một triệu hai trăm mười ba nghìn đồng).
Án xử công khai, có mặt bị cáo, có mặt người bị hại, có mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Pờ Cố Ky, anh Hù Chà Thường, chị Lùng Thị Phượng, vắng mặt anh Đinh Văn Quỳnh. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần quyền, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ, lên TAND tỉnh Lai Châu xem xét theo thủ tục phúc thẩm. /.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - Công an huyện; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |