vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Thị L1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

Giao bị cáo Tô Thị L1 cho Ủy ban nhân dân phường Ka Long, thành phố Móng Cái, Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo L1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thị L1 buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Thị L1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––
Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày: 19 - 7- 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lâm- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tô Thị L1; tên gọi khác: không; sinh ngày 12/7/1967, tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: số 10, đường T1, khu 4, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Quang T2 và bà Lương Thị Đ1; chồng là Ngô Duy N1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo hiện tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

Người chứng kiến: Đỗ Quý H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3/2023, trong khi Tô Thị L1 đang ở nhà tại số 10, đường T1 thuộc khu 4, phường Ka Long, thành phố Móng Cái thì có một người đàn ông Trung Quốc (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến rao bán thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, nên L1 đã mua của người đàn ông Trung Quốc, tổng cộng 178 cây = 1.780 (một nghìn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài các loại, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao, với giá 20.000.000 đồng. Sau khi mua được thuốc lá điếu, L1 cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, khi L1 đem 05 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài, vỏ cây thuốc màu trắng và 05 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI, đều là loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao, đựng trong 02 túi nilon màu đen cho vào trong tủ kính trước cửa nhà của L1 để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ - Công an thành phố Móng Cái kiểm tra, bắt giữ. Khi bị kiểm tra, L1 đã tự nguyện giao nộp 168 cây = 1.680 (một nghìn sáu trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài các loại, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao.

Vật chứng thu giữ gồm: 50 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu WINSTON; 250 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài, vỏ cây thuốc màu trắng; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA; 190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI; 190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING; 80 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER; 170 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG màu vàng; 180 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG màu đen; 110 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG màu đỏ; 90 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU màu trắng; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU màu xanh; 90 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG màu vàng; 10 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG màu xanh; 60 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HARMONIZATION; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HEHUA; 170 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YUXI màu đỏ; 20 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YUXI màu vàng. Tổng cộng là 1.780 (Một nghìn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu. Ngoài ra, còn tạm giữ của L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim có số thuê bao 0382.277.019.

Tại Chứng thư giám định về tình trạng và nguồn gốc số 23D06GCV00039-01 ngày 11/04/2023, của Công ty Vinacontrol Quảng Ninh, kết luận: 178 cây = 1.780 bao thuốc lá điếu loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao, gồm 19 nhãn hiệu thuốc lá ghi thu của Tô Thị L1, gửi giám định không sản xuất tại Việt Nam; Lô hàng thuốc lá trên bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng.

Về xử lý vật chứng: đối với 1.780 bao thuốc lá điếu các loại đã bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Móng Cái đã ra Quyết định tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim có số thuê bao 0382.277.019, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.

Người chứng kiến là anh Đỗ Quý H1 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện vào ngày 09/4/2023 đã được lực lượng Công an thành phố Móng Cái mời chứng kiến việc kiểm tra, thu giữ tang vật gồm 178 (một trăm bảy mươi tám) cây thuốc lá điếu = 1.780 (một nghìn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu, nhãn mác in chữ nước ngoài và không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của Tô Thị L1, sinh năm 1967; nơi cư trú: nhà số 10 đường T1, khu 4 phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Thời điểm kiểm tra Tô Thị L1 khai nhận số hàng thuốc lá điếu trên do nước ngoài sản xuất, toàn bộ đều không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.

Bản Cáo trạng số 58/CT-VKSMC ngày 16/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Tô Thị L1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Tô Thị L1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tô Thị L1 từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng là người chứng kiến, thấy rằng người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai, nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra và khẳng định, những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với Biên bản tuần tra kiểm soát, Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản xác định hiện trường, Chứng thư giám định cùng các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, tại số nhà 10, đường T1 thuộc khu 4, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Tô Thị L1 có hành vi cất giấu trái phép 50 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu WINSTON; 250 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài, vỏ cây thuốc màu trắng; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA; 190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI; 190 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING; 80 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER; 170 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG màu vàng; 180 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG màu đen; 110 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG màu đỏ; 90 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU màu trắng; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU màu xanh; 90 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG màu vàng; 10 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG màu xanh; 60 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HARMONIZATION; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HEHUA; 170 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE; 30 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YUXI màu đỏ và 20 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu YUXI màu vàng. Tổng cộng là 1.780 (Một nghìn bảy trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất (không có hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu), với mục đích để bán kiếm lời, thì bị Công an thành phố Móng Cái kiểm tra, phát hiện, bắt thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh và đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Tô Thị L1 phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: không có

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tô Thị L1 có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo ông Tô Quang Trung được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ đẻ của bị cáo bà Lương Thị Đạo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Qua đánh giá xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xét thấy thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giám sát, giáo dục; có khả năng tự cải tạo nên việc cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Đối với người đàn ông Trung Quốc theo bị cáo L1 khai là người đã bán thuốc lá điếu cho bị cáo, quá trình điều tra không làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Số thuốc lá bị thu giữ gồm 1.780 bao thuốc lá điếu các loại đã bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Móng Cái đã ra Quyết định tiêu hủy nên không đề cập xử lý; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim có số thuê bao 0382.277.019 là tài sản riêng của bị cáo Tô Thị L1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Tô Thị L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tô Thị L1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Tô Thị L1 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Tô Thị L1 cho Ủy ban nhân dân phường Ka Long, thành phố Móng Cái, Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo L1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo Tô Thị L1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 25/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 11 tháng 7 năm 2023 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 31/2023/QĐ-TA ngày 11 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho Tô Thị L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ gắn 01 sim số 0382.277.019.

(Vật chứng nêu trên tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 91/2023/THA ngày 16 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Tô Thị L1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ