vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 25/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 494/KL - KTHS ngày 22/4/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 03 (ba) ống h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Mạnh Tưởng CĐP - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐT
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS - ST
Ngày 25 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nam

Ông Nguyễn Văn Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: ông Đỗ Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST - HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Mạnh T, sinh ngày: 28/7/1990, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu H2, phường TA, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh P và bà Bùi Thị Th; vợ: Lê Thị Hoài Th1 (đã ly hôn), con: có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trương Văn B, sinh ngày: 21/12/1993, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu TB 2, phường TA, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Đ và bà Nguyễn Thị M; vợ: Tăng Thị H; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 31/12/2014, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐT (nay là thị xã ĐT) khởi tố bị can về tội "Cố ý gây thương tích", ngày 03/02/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự do bị hại trong vụ án rút đơn yêu cầu khởi tố. Ngày 26/12/2012, bị Công an thị xã CL (nay là thành phố CL), tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi "Tàng trữ đồ vật nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác", đã chấp hành xong quyết định; bị cáo bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT, có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: ông Phạm Trung Tr; ông Nguyễn Văn Tr1 đều vắng mặt

* Người làm chứng: chị Tăng Thị H (có mặt); anh Nguyễn Thế L, (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Mạnh T và Trương Văn B là bạn quan hệ xã hội và đều nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 14/4/2023, T cùng với anh Nguyễn Thế L, sinh năm 1990, trú tại khu Yên Lâm 1, phường Đức Chính, thị xã ĐT đi chơi ở quán Bida đối diện nhà B thuộc khu Tràng Bảng 2, phường TA, thị xã ĐT. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên T gọi điện thoại di động cho B hỏi “Có lấy được đồ không?”(B và T đều hiểu là có mua được ma túy để cùng sử dụng không), thì B trả lời “Để em hỏi thử xem đã”. Sau đó, B từ nhà bố vợ của B thuộc thôn Bắc Sơn, xã B Khê, thị xã ĐT về thì gặp T ở khu vực cổng nhà B, tại đây T đưa cho B 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) để mua ma túy, B cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu Triều thuộc thị xã KM, tỉnh Hải Dương, gặp và mua của một người đàn ông tên Minh (không rõ lai lịch địa chỉ) 01 (một) túi ma túy, loại Methamphetamine với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, B điều khiển xe mô tô về nhà thì lúc này T đi từ quán Bida sang, cả hai đi vào gian bếp nhà B. Tại đây, B bỏ ra nền bếp bộ đồ sử dụng ma túy, đồng thời trả lại cho T 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và lấy số ma túy vừa mua cho vào cóong, châm lửa đưa cho T sử dụng bằng hình thức “hút” 01 (một) đến 02 (hai) lần, sau đó T đưa lại cho B sử dụng hết số ma túy còn lại trong cóong, rồi B cất bộ đồ sử dụng ma túy vào gầm tủ bếp. Sau khi B và T sử dụng ma túy xong, anh L đi vào gian bếp ngồi chơi điện tử không sử dụng ma túy cùng B và T, cũng không biết B và T sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Công an thị xã ĐT kiểm tra hành chính phát hiện T, B có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy.

Thu giữ tại gầm tủ trước cửa phòng tắm của bếp 01 (một) túi giấy màu trắng bên trong có 01 (một) cóong thủy tinh dài 15cm, uốn cong, một đầu có bầu tròn bên trong bám dính chất màu đen nghi là ma túy, một đầu cắm vào nắp chai nhựa màu xanh có 02 (hai) lỗ; 03 (ba) ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng đường kính 0,5 cm dài lần lượt 17,5 cm, 14 cm và 13,5cm; 01 (một) bật lửa màu đỏ; tại sàn phòng bếp trước cửa nhà vệ sinh 01 (một) chai nhựa màu trắng loại 500ml thân chai dán nhãn Quang Hanh; tại thùng đựng rác gầm bàn bồn rửa bát 01 (một) túi nilon kích thước (3x3,5) cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Ngoài ra còn thu giữ: của B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đỏ qua sử dụng, gắn sim số 0365.484.563 và 0886.008.393; của T 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, gắn sim số 0799.384.122 và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng, gắn sim số 0375.668.836; của anh L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5 màu đen, gắn sim số 0367.510.883.

Tại bản Kết luận giám định số 493/KL-KTHS ngày 22/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất cặn màu đen dạng vết trong bầu tròn ống thủy tinh và chất bám dính trong túi nilon kích thước (3x3,5cm) thu giữ trong bếp nhà Trương Văn B đều là chất ma túy; loại Methamphetamine; dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại bản Kết luận giám định số 493/KL-KTHS ngày 22/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Trương Văn B và Vũ Mạnh T; Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Methamphetamine; MDMA; Ketamine; Heroine; Morphine) và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thế L.

(Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, STT: 247; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5 màu đen, gắn sim số 0367.510.883, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thế L không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 16/4/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT đã trả lại cho anh L.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PROMAX màu đen, gắn sim số 0799384122, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Vũ Mạnh T không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 20/6/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT đã trả cho bà Bùi Thị Th (mẹ đẻ của T) theo ủy quyền của T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Mạnh T, Trương Văn B đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người làm chứng anh Nguyễn Thế L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: khoảng 22 giờ ngày 14/4/2023, sau khi ăn cơm ở nhà bị cáo T, anh và T đến quán bi a thuộc khu TB 2, phường TA, thị xã ĐT để đá bi a. Khi chơi được 02 séc thì T rủ anh sang nhà Trương Văn B chơi (nhà B đối diện quán bi a). Bị cáo T sang trước, anh hút xong điếu thuốc thì sang. Anh sang thì ngồi tại phòng khách nhà B. Sau đó, T gọi anh xuống khu vực bếp. Anh ngồi xuống vị trí cạnh tủ lạnh nghịch điện thoại. Khoảng 15 phút sau, có lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng theo quy định. Bản thân anh không nghiện ma túy. Anh không biết nguồn gốc số ma túy T và B sử dụng cũng như không biết việc hai người bàn bạc mua ma túy sử dụng chung với nhau, không có hành vi giúp sức cho T và B trong quá trình sử dụng ma túy.

Người làm chứng chị Tăng Thị H có lời khai: chị là vợ của bị cáo Trương Văn B. Vào khoảng 23 giờ ngày 14/4/2023 chị đang ngủ ở trong phòng cùng các con thì thấy có tiếng động, tiếng nói của nhiều người. Chị dậy mở cửa thì thấy lực lượng Công an đang tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của chồng chị và Vũ Mạnh T. Ngoài ra, chị còn thấy có anh Nguyễn Thế L là bạn của chồng chị ở trong nhà chị. Việc chồng chị và bạn bè sử dụng ma túy trong nhà chị, chị không được biết.

Người chứng kiến ông Phạm Trung Tr và ông Nguyễn Văn Tr1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: khoảng 23 giờ 40 phút ngày 14/4/2023, các ông đang ở nhà ngủ thì được lực lượng Công an mời đến chứng kiến việc kiểm tra hành chính tại nhà Trương Văn B. Tại thời điểm kiểm tra trong phòng bếp nhà B có 03 (ba) thanh niên có tên: Trương Văn B, Vũ Mạnh T và Nguyễn Thế L. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hành chính, niêm phong đồ vật, tài liệu theo đúng quy định của pháp luật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại Cáo trạng số: 56/CT- VKS - ĐT ngày 19 - 7 - 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố các bị cáo Vũ Mạnh T, Trương Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15 tháng 4 năm 2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Văn B từ 30 (ba mươi) đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15 tháng 4 năm 2023.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 494/KL - KTHS ngày 22/4/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 03 (ba) ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) túi giấy màu trắng; 01 (một) chai nhựa màu trắng; 03 sim điện thoại số 0365.484.563; 0886.008.393 và 0375.668.836

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đỏ.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến với biên bản kiểm tra hành chính hồi 00 giờ 05 phút ngày 15/4/2023 và biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 01 giờ 10 phút ngày 15/4/2023 đều do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã ĐT lập tại khu Tràng Bảng 2, phường TA, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản khám xét, sơ đồ hiện trường, bản ảnh kèm theo biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của các bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 23 giờ ngày 14/4/2023, tại khu Tràng Bảng 2, phường TA, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Mạnh T có hành vi đưa 250.000đ cho Trương Văn B đi mua ma túy, sau khi mua được ma túy thì B đưa T vào bếp nhà mình, đồng thời lấy bộ đồ sử dụng ma túy ra pha chế rồi B, T có hành vi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an thị xã ĐT phát hiện bắt, thu giữ vật chứng.

Hành vi của các bị cáo Vũ Mạnh T, Trương Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Các bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp chất ma túy, cung cấp địa điểm cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Vũ Mạnh T là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma túy, đưa tiền cho bị cáo Trương Văn B mua ma túy về sử dụng. Bị cáo B là người tiếp nhận ý chí, đi mua ma túy, cung cấp công cụ sử dụng ma túy để cả hai cùng sử dụng nên bị cáo T có vai trò chính và cao hơn bị cáo B trong vụ án này.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo Vũ Mạnh T không có tiền án, tiền sự; bị cáo Trương Văn B ngày 31/12/2014, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐT (nay là thị xã ĐT) khởi tố bị can về tội "Cố ý gây thương tích", ngày 03/02/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự do bị hại trong vụ án rút đơn yêu cầu khởi tố. Ngày 26/12/2012, bị Công an thị xã CL (nay là thành phố CL), tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi "Tàng trữ đồ vật nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác", đã chấp hành xong quyết định

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Bị cáo Trương Văn B mặc dù cho vai trò thấp hơn bị cáo Vũ Mạnh T nhưng bị cáo B có nhân thân xấu, do đó phải chịu mức hình phạt tương đương bị cáo Vũ Mạnh T trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong; 03 (ba) ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) túi giấy màu trắng; 01 (một) chai nhựa màu trắng; 03 sim điện thoại (kèm theo máy) xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy; 02 (hai) chiếc điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung ngân sách nhà nước. Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho Trương Văn B, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Nguyễn Thế L quá trình điều tra xác định anh L không sử dụng ma túy cùng với T và B, cũng không biết T và B bàn bạc, thống nhất góp tiền mua ma túy cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép ma túy, nên không đề cập xử lý.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T 30 (ba mươi) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15 tháng 4 năm 2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Văn B 30 (ba mươi) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15 tháng 4 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 494/KL - KTHS ngày 22/4/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 03 (ba) ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) túi giấy màu trắng; 01 (một) chai nhựa màu trắng; 03 sim điện thoại số 0365.484.563; 0886.008.393 và 0375.668.836

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đỏ.

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 71 ngày 20 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trương Văn B, Vũ Mạnh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

(đã ký)

- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;

- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS thị xã ĐT;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- NTG Công an thị xã ĐT (nơi tạm giam bị

Trần Thị Như Quỳnh cáo);

- Lưu: hồ sơ, VP.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ