vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Nguyễn Hữu P 10 ( mười ) tháng tù về tội “đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu P và đồng phạm về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Hữu P 10 ( mười ) tháng tù về tội “đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày: 19-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Hưng

2. Ông Thái Văn Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Yên Thành .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

Nguyễn Hữu P, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1986 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm NG, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và bà Đặng Thị T (đã chết); có vợ Dương Thị L và 02 con; tiền án: không; tiền sự : không; nhân thân: Ngày 29/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 248 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), đã chấp hành xong; tạm giữ: từ ngày 11/2/2023 đến ngày 20/2/2023 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Nguyễn Đình M, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1993 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H và bà Nguyễn Thị H, có vợ Trần Thị Ngũ Ngọc H và 02 con; tiền án: không; tiền sự : không; tạm giữ: từ ngày 11/2/2023 đến ngày 20/2/2023 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Nguyễn Sỹ B, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1991 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ V và bà Nguyễn Thị M, có vợ Nguyễn Thị D và 02 con; tiền án: không; tiền sự : không; tạm giữ: từ ngày 11/2/2023 đến ngày 20/2/2023 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Nguyễn Thọ D, sinh ngày 03 tháng 2 năm 1989 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Nhân Tiến, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị H, có vợ Võ Thị T và 03 con; tiền án: không; tiền sự : không; tạm giữ: từ ngày 11/2/2023 đến ngày 20/2/2023 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Nguyễn Văn C, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1990 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm V, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức V và bà Nguyễn Thị D, có vợ Thái Thị H và 03 con; tiền án: không; tiền sự : không; tạm giữ: từ ngày 11/2/2023 đến ngày 20/2/2023 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Đoàn Công S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1966 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm NG, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị C, có vợ Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án: không; tiền sự : không; tạm giữ: từ ngày 11/2/2023 đến ngày 14/2/2023 được trả tự do; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

-Người tham gia tố tụng khác:

+/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1991 ( có mặt)

Nơi cư trú: xóm NG, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

+/ Người làm chứng: Ông Đặng Xuân T, sinh năm 1973 ( vắng mặt).

Nơi cư trú: khối 10, phường T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/02/2023, tại nhà anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1991, trú tại xóm NG, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, có Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M và một số người khác đến cúng giỗ bố của anh T. Quá trình ăn uống, anh Nguyễn Hữu T, Đặng Xuân T và Nguyễn Hữu P say rượu nên vào phòng đi ngủ trước còn Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M tiếp tục ngồi uống rượu với nhau. Khi đang uống rượu, Nguyễn Thọ D đứng dậy đi ra quán tạp hoá để mua thuốc lá hút, thấy vậy Nguyễn Sỹ B nảy sinh ý định sau khi ăn uống xong sẽ rủ nhau đánh bài nêu đã nói D mua bài, D đồng ý. Sau khi mua thuốc lá và bài xong, D quay lại ngồi uống rượu tiếp và để 02 bộ bài ở trên bản. Lúc này, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài “liêng” và lên tầng 2 nhà anh T để đánh bạc. Khi lên đến tầng 2, M thấy có một chiếc chăn cũ màu đỏ dùng để lau nhà nên M kéo lại và trải ra giữa nhà để tất cả ngồi đánh bạc. Hình thức đánh bạc là đánh bài “Liêng”, nghĩa là một bộ bài tú lơ khơ 52 quân cách thức đánh bạc do các đối tượng tự quy định với nhau, mỗi ván mỗi người chơi được phát ba quân bài, trước khi phát bài mỗi người đặt cược số tiền 10.000 (mười nghìn) đồng gọi là tẩy, sau đó từng người chơi sẽ bốc bài của mình lên, đối tượng đánh thắng thua bằng tiền, mỗi ván cược tối đa không quá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, Đoàn Công Sự đi sang nhà anh T để chơi, khi lên tầng 2 thấy Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M đang đánh bạc nên Sự xin tham gia vào chơi cùng và được tất cả đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Hữu P tỉnh dậy và lên tầng 2 nhà anh T thấy các đối tượng đang đánh bạc, nên P xin tham gia vào chơi và được đồng ý. Đến 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi các đối tượng Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M, Đoàn Công Sự đang đánh bạc với nhau thì bị tổ công tác Công an xã NT, huyện Yên Thành phát hiện, bắt quả tang; thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.090.000 (bảy triệu, không trăm chín mươi nghìn) đồng và 02 bộ bài tú lơ khơ gồm: 01 bộ màu xanh và 01 bộ màu đỏ, mỗi bộ có 52 lá bài; thu giữ ở trên người Đoàn Công Sự số tiền 2.500.000 (hai triệu, năm trăm nghìn) đồng, thu giữ trên người Nguyễn Sỹ B số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng; thu giữ trên người Nguyễn Văn C số tiền 4.800.000 (bốn triệu, tám trăm nghìn) đồng.

Quá trình điều tra đã chứng minh số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc như sau: Đoàn Công S 1.310.000 (một triệu, ba trăm mười nghìn) đồng; Nguyễn Hữu P 2.480.000 (hai triệu, bốn trăm tám mươi nghìn) đồng; Nguyễn Thọ D 1.310.000 (một triệu, ba trăm mười nghìn) đồng; Nguyễn Đình M sử dụng 1.530.000 (một triệu, năm trăm ba mươi nghìn) đồng; Nguyễn Sỹ B 1.480.000 (một triệu, bốn trăm tám mươi nghìn) đồng; Nguyễn Văn C 1.480.000 (một triệu, bốn trăm tám mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.590.000 (Chín triệu, năm trăm chín mươi nghìn) đồng.

*Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị can Đoàn Công Sự, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn C, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M, Nguyễn Thọ D đều thành khẩn khai báo; các bị can Đoàn Công Sự, Nguyễn Văn C, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M, Nguyễn Thọ D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) tấm vải chăn màu đỏ, đã qua sử dụng; 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ (một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh), đã qua sử dụng. Các vật chứng này hiện đang được bảo quản theo đúng quy định của pháp luật.

Thu giữ trên người Nguyễn Sỹ B số tiền 500.000 (năm trăm nghìn đồng) và Nguyễn Văn C số tiền 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Do Nguyễn Sỹ B và Nguyễn Văn C không sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã trả lại cho Bằng và Công theo đúng quy định.

Thu giữ số tiền 7.090.000 (bảy triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) trên chiếu bạc và 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn đồng) ở trên người Đoàn Công Sự, tổng là 9.590.000 đồng (chín triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) hiện được gửi tại Kho bạc huyện Yên Thành chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS-YT, ngày 04 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố Nguyễn Hữu P, Nguyễn Đình M, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Văn C và Đoàn Công Sự về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt P từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt M từ 07 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 16 tháng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bằng từ 09 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 20 tháng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt D từ 07 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 16 tháng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Công từ 08 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 18 tháng.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Sự từ 06 tháng đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng.

- Về hình phạt bổ sung: Gia đình các bị cáo làm nông nghiệp, kinh tế khó khăn nên không áp dụng đối với các bị cáo.

- Vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ (một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh) và 01 chiếc tấm vải chăn màu đỏ ( đã qua sử dụng ).

Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 9.590.000 (chín triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng). ¬

Án Phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh, mức án với Kiểm sát viên.

Các bị cáo đề nghị: Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào ngày 10/2/2023 tại nhà của Nguyễn Hữu T ở xóm NG, xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Các đối tượng Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M, Nguyễn Hữu P, Đoàn Công Sự đánh bài liêng ăn tiền, tỷ lệ thắng thua từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng.

Tại chiếu, các đối tượng sử dụng số tiền đánh liêng là Đoàn Công Sự 1.310.000 đồng; Nguyễn Hữu P 2.480.000 đồng; Nguyễn Thọ D 1.310.000 đồng; Nguyễn Đình M sử dụng 1.530.000 đồng; Nguyễn Sỹ B 1.480.000 đồng; Nguyễn Văn C 1.480.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh liêng là 9.590.000 đồng.

Khi các đối tượng đang đánh bài liêng ăn tiền thì bị tổ công tác Công an xã NT phát hiện bắt quả tang và lập biên bản giữ người cùng vật chứng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được, có đủ cơ sở xác định các bị cáo đánh bài liêng được thua bằng tiền trái phép. Do đó các bị cáo đã phạm tội “ Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Số tiền các bị cáo đánh bạc là 9.590.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, đến nếp sống văn minh của xã hội, gây ra tan cữa nát nhà, do đánh bạc mà dẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp giật, cho vay nặng lãi ...., gây mất an ninh, trật tự trên địa bàn, quần chúng nhân dân bất bình. Cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo, tuy nhiên các bị cáo cùng thực hiện một tội phạm, đều là người thực hành nên đồng phạm giản đơn, cần phân hóa vai trò của các bị cáo khi xem xét mức hình phạt.

Bị cáo P: Là người có nhân thân không tốt ( 1 lần phạm tội về đánh bạc) đáng lẽ bị cáo phải chu chí làm ăn, từ bỏ cờ bạc nhưng bị cáo lại tiếp tục tham gia đánh bạc với số tiền 2.480.000 đồng, đứng thứ nhất, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn, có bố là Nguyễn Văn Thọ được Chủ tịch nước thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì, P được Chủ tịch xã tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành từ 09 tháng đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo.

Bị cáo M: Là người trải chăn ra để ngồi đánh bạc, có số tiền tham gia đánh bạc 1.530.000 đồng, đứng thứ 2. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo.

Bị cáo Bằng: Là người khởi xướng đánh bạc, có số tiền tham gia đánh bạc 1.480.000 đồng, đứng thứ 3. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành từ 07 tháng đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo.

Bị cáo D: Là người trực tiếp mua 02 bộ bài để đánh bạc, có số tiền tham gia đánh bạc 1.310.000 đồng, đứng thứ 4. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố là Nguyễn Ngọc Lê được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, D được Chủ tịch xã tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành từ 06 tháng đến 07 tháng tù, cho hưởng án treo.

Bị cáo Công: Có số tiền tham gia đánh bạc 1.480.000 đồng, đứng thứ 3. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành từ 06 tháng đến 07 tháng tù, cho hưởng án treo.

Bị cáo Sự: Có số tiền tham gia đánh bạc 1.310.000 đồng, đứng thứ 4. Tuy nhiên bị cáo khai báo thành khẩn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có gia đình bố mẹ là Đoàn Văn Đương, Lê Thị Cư được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, Sự tham gia Quân đội được tặng kỷ niệm chương. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành từ 06 tháng đến 07 tháng tù, cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có tài sản và có thu nhập hàng tháng từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng nên cần phạt bổ sung mỗi bị cáo 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà Nước.

Đối với Nguyễn Hữu T là chủ nhà nhưng không biết các đối tượng đánh bạc trên tầng 2 nhà của mình nên không khởi tố T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Yên Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 tấm vải chăn màu đỏ, đã qua sử dụng; 02 bộ bài tú lơ khơ (một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh), đã qua sử dụng, tiền mặt đánh bạc 9.590.000 đồng.

Xét 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân (01 bộ màu đỏ, 01 bộ màu xanh) và 01 tấm vải chăn màu đỏ không còn giá trị sử dụng và anh T chủ sở hữu không yêu cầu trả nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền mặt 9.590.000 đồng bị cáo dùng vào đánh bạc nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước như quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Hữu P 10 ( mười ) tháng tù về tội “đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách P cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc P phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Đình M 09 ( Chín ) tháng tù về tội “ đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách M cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc M phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Sỹ B 08 ( Tám ) tháng tù về tội “ đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Bằng thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách Bằng cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Bằng phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thọ D 07 ( Bảy ) tháng tù về tội “ đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách D cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc D phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn C 07 ( Bảy ) tháng tù về tội “ đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Công thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách Công cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Công phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17, 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đoàn Công Sự 06 ( Sáu ) tháng tù về tội “ đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Giao cho Ủy ban nhân dân xã NT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp Sự thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách Sự cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Sự phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K (một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh) và 01 tấm vải chăn màu đỏ, đã qua sử dụng (Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý ngày 13/04/2023)

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 9.590.000 ( Chín triệu, năm trăm chín mươi nghìn) đồng (đã chuyển vào tài khoản số 39.490.104.774.600.000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành tại Kho bạc nhà nước Yên Thành ngày 10/02/2023) . ¬

¬

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Thọ D, Nguyễn Sỹ B, Nguyễn Đình M, Nguyễn Hữu P, Đoàn Công Sự mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ