- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HS-ST Ngày 26 - 11 -2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Ngọc Lan
2. Bà Trần Thị Mai Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phan Tường Linh - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm “Kín” vụ án hình sự thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Mai Trung H - sinh ngày 04 tháng 11 năm 2002 tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; (Đến thời điểm phạm tội H đủ 17 tuổi, 07 tháng, 13 ngày); Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu P, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thành C - sinh năm 1974 và bà Ma Thị Hồng T - sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2020 đến ngày 26/6/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo là ông Mai Thành C – sinh năm 1974; Trú tại: Khu P, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. (là bố đẻ của cháu H)
+ Người bào chữa cho bị cáo Mai Trung H: Bà Bùi Thị T Nga -Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
+ Bị hại: Cháu Tô Thị Ánh H - sinh ngày 08/7/2005
Trú tại: Khu 3, xã L, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Người đại diện cho cháu H là anh Tô Văn L – sinh năm 1982 (Bố đẻ cháu H); Trú tại: Khu 3, xã L, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là bà: Bà Hà Thị Lan Hương -Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị H - sinh năm 1966
2. Ông Dương Ngọc H – sinh năm 1955
Đều trú tại: Tổ 8, phố T, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
Người làm chứng: Ông Tô Minh Đ – sinh năm 1960
Trú tại: Khu S, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết trên mạng xã hội, nên Mai Trung H và cháu Tô Thị Ánh H, sinh ngày 08/7/2005 trú tại khu 3, xã L, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ thường xuyên nhắn tin trò chuyện với nhau qua ứng dụng Messenger của facebook. Ngày 17/6/2020, H nhắn tin rủ H xuống thị xã Phú Thọ chơi và H đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H gọi điện thuê anh Phạm Văn H, sinh năm 1988 trú tại khu 1, xã Minh Hạc, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là lái xe hãng taxi Hưng Thịnh đưa H xuống thị xã Phú Thọ để gặp H. Lúc rời khỏi nhà, H mang theo 01 túi vải màu vàng có in chữ ‘be” màu xanh; 04 bộ quần áo các loại, 01 điện thoại di động Realme kèm sim số 0364074283 và 100.000 đồng; mọi người trong gia đình H không ai biết. Khi đến khu vực ngã tư 27/7 thuộc phố Tân Thành, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, H nhắn tin cho H ra đón. H mượn xe mô tô BKS 19M1- 153.75 của Nguyễn Quang H, sinh năm: 2005 trú tại khu 4, xã T Minh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đến điểm hẹn đón H. Khi gặp nhau, H nói đi xe taxi hết 340.000 đồng, H đã trả 100.000 đồng và bảo H trả nốt số tiền còn lại. Do không có tiền nên H một mình điều khiển xe mô tô đến quán internet Long Bi thuộc đường Cao Bang, xã T Minh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ để bán chiếc điện thoại Redmi note 7 màu xanh kèm sim số 0329292241 của mình. Đến nơi, H gặp bà Hà Thị Định, sinh năm: 1967 và bán chiếc điện thoại được 300.000 đồng. Sau đó H quay lại trả cho anh H 240.000 đồng rồi đưa H đến Nhà nghỉ H H thuộc phố T, phường H, thị xã Phú Thọ để thuê phòng nghỉ. Mặc dù, H không xuất trình được giấy tờ tùy thân nhưng bà Lê Thị H, sinh năm: 1966 là nhân viên của nhà nghỉ vẫn đồng ý cho H thuê phòng 202. H đưa H lên phòng nghỉ 202 rồi quay xuống điều khiển xe mô tô BKS 19M1- 153.75 ra quảng trường Bình Minh thuộc khu Tân Thành, phường H, thị xã Phú Thọ để trả xe và nhờ Nguyễn Quang H chở về nhà nghỉ H H. Tại phòng 202 nhà nghỉ H H, H và H cùng nằm trên gường trò chuyện, tâm sự với nhau khoảng 10 phút thì H bảo H cho H quan hệ tình dục. Mặc dù H không đồng ý nhưng H vẫn dùng tay trái kéo cởi áo của H từ dưới bụng lên, H kháng cự, dùng tay giữ áo không cho H cởi nên H không cởi hết được mà áo bị mắc ở cổ và phần tay bên trái. H tiếp tục dùng tay trái cởi váy, quần lót của H đến ngang đùi thì H dùng tay giữ váy, quần lót không cho H cởi tiếp. H nói “bỏ tay ra” hai lần và cởi được váy, quần lót của H rồi nằm đè lên người H. Lúc này, cửa phòng đã đóng khóa chốt, trong phòng kín, H hoảng sợ và không quen biết ai nên không kêu, gọi người đến giúp. Mặt khác, H nằm bên ngoài, H nằm bên trong sát tường nên H không bỏ chạy được chỉ kháng cự bằng cách dùng tay đẩy vai, dùng chân đạp vào sườn pH của H làm H bị ngã lăn ra gường. H ngồi dậy, tự cởi quần ngắn ngang gối, quần lót trong và đeo bao cao su H đã chuẩn bị từ trước vào dương vật đang cương cứng của mình. Trong lúc này, H lấy váy, áo của mình để mặc vào nhưng chưa kịp mặc thì H tiếp tục nằm đè lên người H, một tay vòng qua cổ, một tay vòng qua lưng để giữ. H dùng tay đẩy người H nhưng do H giữ chặt nên H không đẩy ra được. Sau đó, H quỳ gối giữa hai chân của H, dùng hai tay kéo hai chân của H mở rộng ra để lộ âm hộ của H, H khép chân mục đích không cho H thực hiện hành vi giao cấu với mình nên pH mất khoảng từ 01 phút đến 02 phút H mới đưa được dương vật của mình vào âm hộ của H. H thực hiện hành vi quan hệ tình dục với H bằng cách đưa dương vật của mình ra vào âm hộ của H nhiều lần trong khoảng thời gian từ 03 phút đến 04 phút thì H rút dương vật của mình ra ngoài âm hộ của H, xuất tinh vào bao cao su và kết thúc quá trình quan hệ tình dục. Sau đó H vứt bỏ bao cao su đã sử dụng ra ngoài cửa sổ phòng nghỉ, đi vệ sinh và tự mặc quần áo; H cũng tự mặc quần áo của mình rồi cùng H ngủ tại phòng 202 nhà nghỉ H H. Đến sáng ngày 18/6/2020, bố đẻ của H là anh Tô Văn L, sinh năm: 1982 trú tại khu 3, xã L, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ gọi điện nhờ chú họ là ông Tô Minh Đ, sinh năm 1960 trú tại khu S, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đến nhà nghỉ H H để đón H về. Khi ông Đ đến, bà H nhân viên của nhà nghỉ đang yêu cầu H T toán 180.000 đồng tiền phòng nghỉ; do H chỉ có 70.000 đồng nên ông Đ đã trả thêm cho bà H 100.000 đồng là 170.000 đồng, còn 10.000 đồng bà H không yêu cầu H pH T toán. Sau đó, ông Đ đưa H về nhà ông Đ đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày thì anh L cùng hai anh họ của H là Tô Văn H, sinh năm: 1991 và Chu Ngọc Lân, sinh năm: 1997 đều trú tại khu 3, xã L, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đến đón H về nhà. Khi về đến nhà, H kể cho anh L, H và Lân nghe sự việc đêm ngày 17/6/2020 H bị H quan hệ tình dục trái ý muốn tại nhà nghỉ H H. Ngay sau đó, anh L đã đưa H đến Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ trình báo; tự nguyện giao nộp 01 giấy chứng minh nhân dân (bản photo), 01 giấy khai sinh (bản photo), 01 trích lục khai sinh mang tên Tô Thị Ánh H; 01 túi màu vàng mặt trước có chữ “be”; 01 áo lót nữ màu trắng có hai dây, 01 quần tất màu vàng nhạt, 01 quần lót nữ màu hồng nhạt, 01 áo trắng ngắn tay cổ tròn, 01 chân váy màu đen; 01 điện thoại Realme màu đỏ kèm sim số 0364074283 là đồ vật, tài sản H mang theo người ngày 17/6/2020 đồng thời đề nghị điều tra làm rõ và xử lý H theo quy định của pháp luật.
Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của anh L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, ghi lời khai người bị hại, người biết việc, người liên quan và tiến hành điều tra theo quy định. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành trích sao đoạn video ghi lại hình ảnh Mai Trung H và cháu Tô Thị Ánh H đi vào nhà nghỉ H H từ camera an ninh lắp phía trước cửa hàng cơ khí Huy Bình của bà Trần Thị Huy, sinh năm 1963, ở phố T, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ vào 01 đĩa CD mặt trước màu vàng cam.
Phục vụ công tác điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định bộ phận sinh dục của cháu Tô Thị Ánh H và Mai Trung H. Tại bản kết luận giám định số 42 ngày 22/6/2020, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Màng trinh rách mới ở vị trí 03 giờ và 05 giờ, trợt đỏ, tụ máu niêm mạc gốc màng trinh phía mặt thành âm hộ”; “không tìm thấy xác tinh trùng trên 06 lam kính làm pH đồ dịch âm hộ, âm đạo nhuộm Giemsa”. Tại bản kết luận giám định số 18 ngày 26/6/2020, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tại thời điểm giám định bộ phận sinh dục của Mai Trung H phát triển bình thường, đủ khả năng quan hệ tình dục; Mai Trung H không bị nhiễm virut HIV”. Các kết luận giám định đều được thông báo cho bị can, bị hại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ, Mai Trung H tự nguyện giao nộp 01 áo phông màu đen cộc tay có cổ, 01 quần vải màu đen, kẻ ô dạng quần ngắn ngang gối, H mặc khi thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn cháu H ngày 17/6/2020 và 01 điện thoại Redmi note 7 màu xanh kèm sim số 0329292241, H đã chuộc từ quán internet Long Bi đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ông Mai Thành C, sinh năm: 1974 là bố đẻ của H tự nguyện giao nộp 01 giấy khai sinh mang tên Mai Trung H (bản sao); Chủ nhà nghỉ H H, ông Dương Ngọc H, sinh năm: 1955 tự nguyện giao nộp 01 ga trải gường màu trắng kích thước 2,20x1,6m; 01 vỏ chăn màu trắng kích thước 1,7mx2m của gường tại phòng 202, nơi H thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với H cùng các tài liệu, giấy tờ liên quan đến kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ gồm: 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 biên bản kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy chữa cháy và 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú của Nhà nghỉ H H để phục vụ công tác điều tra. Lời khai nhận của H phù hợp với lời khai của bị hại, người biết việc, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Kết quả điều tra xác định, tại thời điểm ngày 17/6/2020 Mai Trung H được 17 tuổi, 07 tháng, 13 ngày còn cháu Tô Thị Ánh H được 14 tuổi 10 tháng 09 ngày.
Về vật chứng, tài sản, đồ vật tạm giữ: đối với 01 giấy khai sinh (bản photo), 01 chứng minh nhân dân (bản photo), 01 trích lục khai sinh, mang tên Tố Thị Ánh H; 01 giấy khai sinh (bản sao) mang tên Mai Trung H; 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại hình ảnh H, H đi vào nhà nghỉ H H được lưu trong hồ sơ vụ án; đối với 01 túi màu vàng mặt trước có chữ “be”; 01 áo lót nữ màu trắng có hai dây, 01 quần tất màu vàng nhạt, 01 quần lót nữ màu hồng nhạt, 01 áo trắng ngắn tay cổ tròn, 01 chân váy màu đen; 01 điện thoại Realme màu đỏ kèm sim số 0364074283; 01 áo phông màu đen cộc tay, có cổ, 01 quần vải màu đen, kẻ ô dạng quần ngắn ngang gối, 01 điện thoại Redmi note 7 màu xanh kèm sim số 0329292241; 01 ga trải gường màu trắng kích thước 2,20x1,6m; 01 vỏ chăn màu trắng kích thước 1,7mx2m được chuyển sang Cơ quan thi hành án dân sự theo quy định. Đối với 01 bao cao su H khai sử dụng khi giao cấu trái ý muốn với cháu H, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện bao cao su và vỏ bao cao su nào. Đối với 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 biên bản kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy chữa cháy và 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú của Nhà nghỉ H H, xét thấy việc trả các tài liệu trên trên không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả lại trả lại cho chủ nhà nghỉ H H là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Tô Văn L, đại diện cho cháu H, đã yêu cầu H bồi thường sức khỏe, nhân phẩm, danh dự cho cháu H số tiền: 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Nhưng bị cáo Mai Trung H không đồng ý với mức bồi thường trên. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay giữa gia đình bị cáo do ông Mai Thành C và gia đình bố bị hại là ông Tô Văn L đã thống nhất thỏa thuận số tiền bồi thường cho cháu Tô Thị Ánh H là 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng). Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại là cháu Tô Thị Ánh H 10.000.000đồng (Số tiền này ông Tô Văn Niệm và ông Tô Văn L đã nhận). Số tiền còn lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) hai bên thống nhất đến ngày 10/12/2020 anh C có trách nhiệm trả đủ số tiền trên cho bị hại.
Về tài sản, thu nhập: Mai Trung H làm nghề lao động tự do, công việc, thu nhập không ổn định; sống phụ thuộc vào bố mẹ, bản thân cũng không có tải sản C, tài sản riêng gì có giá trị.
Bản cáo trạng số 59/CT-VKS-TXPT ngày 14/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo Mai Trung H về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, công bố bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Trung H phạm tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586, Điều 592 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Mai Trung H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Xử phạt bị cáo Mai Trung H từ 4 (Bốn) năm 6 (sáu) tháng tù đến 5 (Năm) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/6/2020 đến ngày 26/6/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị xác nhận giữa gia đình bị cáo do ông Mai Thành C và gia đình bố bị hại là ông Tô Văn L đã thống nhất thỏa thuận số tiền bồi thường cho cháu Tô Thị Ánh H là 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại là cháu Tô Thị Ánh H 10.000.000đồng (Số tiền này ông Tô Văn Niệm và ông Tô Văn L đã nhận). Số tiền còn lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) hai bên thống nhất đến ngày 10/12/2020 anh C có trách nhiệm trả đủ số tiền trên cho bị hại.
Về vật chứng và đồ vật, tài liệu tạm giữ:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 túi màu vàng mặt trước của chiếc túi có chữ “be” màu xanh, có 02 dây đeo màu đen; 01 áo lót nữ màu trắng có hai dây; 01 quần tất màu hồng nhạt; 01 quần lót nữ màu hồng nhạt; 01 áo trắng ngắn tay cổ tròn; 01 chân váy màu đen được niêm phong trong một hộp giấy bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký của Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Xuân T, Hà Thị Lan Hương, Tô Văn L, Tô Thị Ánh H và có đóng 03 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ; 01 áo phông màu đen không rõ nhãn H dạng áo có cổ cộc tay bên trong có gắn cỡ M; 01 quần vải màu đen kẻ ô nhãn H “NAVY” dạng quần ngắn ngang gối đã qua sử dụng (Thực tế là nhãn H ANVY); 01 ga trải gường màu trắng kích thước 2,20x1,6m cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ chăn màu trắng kích thước 1,7mx2,00 m chăn cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong một hộp giấy bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký của Nguyễn Xuân T, Trần Thạch D, Đinh Huy H, Dương Ngọc H, Thân Thành Công và có đóng 03 hình dấu tròn đỏ của Công an phường H thị xã Phú Thọ;
Trả lại 01 điện thoại Realme vỏ máy màu đỏ số IMEI 1 860750040589136; số IMEI 2 860750040589128 lắp sim số 0364074283 điện thoại trong trạng thái hết pin không kiểm tra tình trạng máy máy đã qua sử dụng thu giữ của Tô Thị Ánh H; 01 điện thoại di động nhãn H Redmi note 7 màu xanh số IMEI 866042042869094, IMEI 2: 866042044299092 điện thoại có gắn thẻ sim số 0329292241 điện thoại trong trạng thái hết pin không kiểm tra tình trạng máy máy đã qua sử dụng thu giữ của Mai Trung H;
Xác nhận ngày 13/9/2020 Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả cho bà Lê Thị H và ông Dương Ngọc H 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 biên bản kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy chữa cháy và 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú của Nhà nghỉ H H.
Đối với 01 giấy khai sinh (bản photo), 01 chứng minh nhân dân (bản photo), 01 trích lục khai sinh, mang tên Tố Thị Ánh H; 01 giấy khai sinh (bản sao) mang tên Mai Trung H; 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại hình ảnh H, H đi vào nhà nghỉ H H được lưu trong hồ sơ vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc bị cáo Mai Trung H pH chịu án phí hình sự và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo H về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự và trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bị hại. Do bị cáo H phạm tội là người chưa thành niên, nhận thức xã hội còn hạn chế. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc trước khi L hình đối với bị cáo H
Người đại diện hơp pháp cho bị cáo H là ông Mai Thành C (bố đẻ) nhất trí với ý kiến của những người bào chữa đã nêu ở trên, không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo H về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự và trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bị hại. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng nhất trí với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại như trên.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, do bị cáo có hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên dẫn đến bị cáo mới phạm tội vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/6/2020, tại phòng 202 nhà nghỉ H H thuộc phố T, phường H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, Mai Trung H đã thực hiện hành vi dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn với cháu Tô Thị Ánh H (tại thời điểm ngày 17/6/2020 cháu H được 14 tuổi 10 tháng 09 ngày).
Hành vi của H đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi cần pH được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Mai Trung H phạm tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 điều 142 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 142 BLHS quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đọan khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
...”
.Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của cháu H được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, tại thời điểm bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội cháu H chưa đủ 16 tuổi, độ tuổi còn chưa phát triển đầy đủ về mặt tâm sinh lý và sức khỏe nhất là sức khỏe sinh sản. Vì vậy, cần pH xử lý bị cáo thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa C. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Tại thời điểm phạm tội bị cáo mới có 17 tuổi 07 tháng 13 ngày. Tại Điều 91 Bộ luật hình sự quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội pH bảo đảm lợi ích tốt nhất của người đó và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi pH căn cứ vào độ tuổi và khả năng nhận thức của họ...”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho bị hại. Người bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo rèn luyện, cải tạo được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Đối với bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 141 và khoản 4 Điều 142 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo H đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc trước khi quyết định hình phạt.
Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp cho bị hại và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại cũng nhận thức rõ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng, bản luận tội đã nêu, không có ý kiến nào khác và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của người đại diện hợp pháp cho bị hại và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc trước khi quyết định hình phạt.
. Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận gia đình bị cáo do anh Mai Thành C (là bố đẻ bị cáo) đã bồi thường cho bị hại là cháu Tô Thị Ánh H 10.000.000đồng (Số tiền này ông Tô Văn Niệm và anh Tô Văn L đã nhận). Số tiền còn lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) hai bên thống nhất đến ngày 10/12/2020 anh C có trách nhiệm trả đủ số tiền trên cho bị hại.
. Về vật chứng và đồ vật, tài liệu tạm giữ:
Đối với 01 túi màu vàng mặt trước của chiếc túi có chữ “be” màu xanh, có 02 dây đeo màu đen; 01 áo lót nữ màu trắng có hai dây; 01 quần tất màu hồng nhạt; 01 quần lót nữ màu hồng nhạt; 01 áo trắng ngắn tay cổ tròn; 01 chân váy màu đen được niêm phong trong một hộp giấy bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký của Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Xuân T, Hà Thị Lan Hương,Tô Văn L,Tô Thị Ánh H và có đóng 03 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ; 01 áo phông màu đen không rõ nhãn H dạng áo có cổ cộc tay bên trong có gắn cỡ M; 01 quần vải màu đen kẻ ô nhãn H “NAVY” dạng quần ngắn ngang gối đã qua sử dụng (Thực tế là nhãn H ANVY); 01 ga trải gường màu trắng kích thước 2,20x1,6m cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ chăn màu trắng kích thước 1,7mx2,00 m chăn cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong một hộp giấy bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký của Nguyễn Xuân T, Trần Thạch D, Đinh Huy H, Dương Ngọc H, Thân Thành Công và có đóng 03 hình dấu tròn đỏ của Công an phường H thị xã Phú Thọ. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nhận lại đối với toàn bộ tài sản trên. Xét thấy những tài sản sản này có giá trị không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 điện thoại Realme vỏ máy màu đỏ số IMEI 1 860750040589136; số IMEI 2 860750040589128 lắp sim số 0364074283 điện thoại trong trạng thái hết pin không kiểm tra tình trạng máy máy đã qua sử dụng thu giữ của Tô Thị Ánh H; 01 điện thoại di động nhãn H Redmi note 7 màu xanh số IMEI 866042042869094, IMEI 2: 866042044299092 điện thoại có gắn thẻ sim số 0329292241 điện thoại trong trạng thái hết pin không kiểm tra tình trạng máy máy đã qua sử dụng thu giữ của Mai Trung H không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại;
Đối với 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 biên bản kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy chữa cháy và 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú của Nhà nghỉ H H không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả cho bà Lê Thị H và ông Dương Ngọc H ngày 13/9/2020 cần được xác nhận.
Đối với 01 giấy khai sinh (bản photo), 01 chứng minh nhân dân (bản photo), 01 trích lục khai sinh, mang tên Tố Thị Ánh H; 01 giấy khai sinh (bản sao) mang tên Mai Trung H; 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại hình ảnh H, H đi vào nhà nghỉ H H được lưu trong hồ sơ vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Bị cáo Mai Trung H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 142, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54,Điều 90, Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586, Điều 592 Bộ luật Dân sự. Tuyên bố: Bị cáo Mai Trung H phạm tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; phạt Mai Trung H 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/6/2020 đến ngày 26/6/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận gia đình bị cáo do anh Mai Thành C (là bố đẻ bị cáo) đã bồi thường cho bị hại là cháu Tô Thị Ánh H 10.000.000đồng (Số tiền này ông Tô Văn Niệm và anh Tô Văn L đã nhận). Số tiền còn lại là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) hai bên thống nhất đến ngày 10/12/2020 anh C có trách nhiệm trả đủ số tiền trên cho bị hại.
Đến hạn thỏa thuận trên bị cáo Mai Trung H không tự nguyện thi hành án, cháu Tô Thị Ánh H có đơn đề nghị thi hành án nếu bị cáo H không thi hành xong khoản tiền trên thì còn pH trả lãi tương ứng với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời H thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi màu vàng mặt trước của chiếc túi có chữ “be” màu xanh, có 02 dây đeo màu đen; 01 áo lót nữ màu trắng có hai dây; 01 quần tất màu hồng nhạt; 01 quần lót nữ màu hồng nhạt; 01 áo trắng ngắn tay cổ tròn; 01 chân váy màu đen được niêm phong trong một hộp giấy bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký của Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Xuân T, Hà Thị Lan Hương, Tô Văn L, Tô Thị Ánh H và có đóng 03 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ; 01 áo phông màu đen không rõ nhãn H dạng áo có cổ cộc tay bên trong có gắn cỡ M; 01 quần vải màu đen kẻ ô nhãn H “NAVY” dạng quần ngắn ngang gối đã qua sử dụng (Thực tế là nhãn H ANVY); 01 ga trải gường màu trắng kích thước 2,20x1,6m cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ chăn màu trắng kích thước 1,7mx2,00 m chăn cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong một hộp giấy bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký của Nguyễn Xuân T, Trần Thạch D, Đinh Huy H, Dương Ngọc H, Thân Thành Công và có đóng 03 hình dấu tròn đỏ của Công an phường H thị xã Phú Thọ.
Trả lại cho Tô Thị Ánh H 01 điện thoại Realme vỏ máy màu đỏ số IMEI 1 860750040589136; số IMEI 2 860750040589128 lắp sim số 0364074283 điện thoại trong trạng thái hết pin không kiểm tra tình trạng máy máy đã qua sử dụng; Mai Trung H 01 điện thoại di động nhãn H Redmi note 7 màu xanh số IMEI 866042042869094, IMEI 2: 866042044299092 điện thoại có gắn thẻ sim số 0329292241 điện thoại trong trạng thái hết pin không kiểm tra tình trạng máy đã qua sử dụng.
Xác nhận ngày 13/9/2020 Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 01 biên bản kiểm tra điều kiện an toàn phòng cháy chữa cháy và 01 sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú của Nhà nghỉ H H cho bà Lê Thị H và ông Dương Ngọc H.
Về đồ vật: Lưu hồ sơ 01 giấy khai sinh (bản photo), 01 chứng minh nhân dân (bản photo), 01 trích lục khai sinh, mang tên Tố Thị Ánh H; 01 giấy khai sinh (bản sao) mang tên Mai Trung H; 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại hình ảnh H, H đi vào nhà nghỉ H H.
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Mai Trung H pH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự trong vụ án hình sự: Buộc bị cáo Mai Trung H pH chịu 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh PT; - VKSND thị xã Phú Thọ; - Công an thị xã Phú Thọ; - Cơ quan THAHS - Chi cục THADS thị xã Phú thọ; - Sở Tư pháp tỉnh PT; - UBND phường H; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Ngọc Hà |