- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Hải N phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2017/HSST Ngày 29-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
- Các Hội thẩm nhân dân:
1.
;
.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng tham gia phiên toà:
, Kiểm sát viên.
t xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2017/HSST ngày 14-9-2017, đối với bị cáo:
; ĐKNKTT và trú tại: Đường HV
SD
HB
; dân tộc: Kinh, trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Không; bố là: V
, mẹ là:
; chưa có vợ con. Tiền án:
19/2014/HSST
18-6-2014
12
.
02-6-2017,
07-6-
.
:
: Đường DL
SD
HB,
.
Ng
: Chị
: Đường HV
SD
HB,
.
NHẬN THẤY:
Bị cáo
bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố về hành vi phạm tội như sau:
01-6-2017, Vũ Hải N đi bộ
Nguyễn Thị H (Đường DL, phường SD, quận HB, thành phố Hải Phòng), thấy trong phòng trọ số 4 có 01 chiếc xe môtô, 02 chiếc xe đạp, không có người ở trong phòng. N dùng tay bẻ gãy chốt cửa, để chốt khóa lên bờ tường bao. Sau , N đi ra bên ngoài đường Dầu Lửa qu
đi đến trạm dừng xe buýt thì gặp Phùng Thị L và Lã Minh C. N nói cho L và C biết
chiếc xe máy chìa khóa cắm ở khóa t
. C và L không nói gì.
, N
dãy nhà trọ, đi được một đoạn thì thấy L đi phía sau. N bảo L quay về nhưng L bảo
đi cùng. Khi đến gần khu nhà trọ, L đứng bên ngoài một lúc rồi quay trạm xe buýt. N
cửa phòng trọ
4, dắt chiếc xe môtô, đi theo lối cổng nhà trọ ra ngoài, nổ máy đi
trạm xe buýt đưa
cho L (C vẫn ngồi ở đó). N nhờ L mang xe
m để lấy tiền ăn tiêu. L
, nhưng sau đó về gặp N nói không cầm được và đã giao xe cho Lê Quang D (chồng L) mang đi gửi tại bãi xe gần khu vực siêu thị Mêtrô.
cùng ngày, D chở N đi lấy xe. N điều khiển
xe môtô
khu vực cổng bệnh viện Việt Tiệp. Tại đây, N lấy ở khe bốt điện một Biển kiểm soát số 29X7-4577 lắp vào chiếc xe
, tháo biển kiểm soát của xe ra mang về nhà cất giấu. N đã dùng sơn đen phủ lên hai c ng phía sau và phần trên của xe gần vị trí đồng hồ. Sau đó, N cho bạn tên C1
) mượn để làm phương tiện đi lại.
Khi phát hiện bị mất chiếc xe môtô, anh Nguyễn Xuân Q, chủ sở hữu xe đã
Công
Dầu.
Ngày 02-6-2017, Vũ Hải N đã bị bắt theo lệnh bắt khẩn cấp của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Hải N, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 Biển kiểm soát 34F7-1072; 01 Biển kiểm soát 15MD-02218 và 01 xe môtô nhãn hiệu ATTILA có Biển kiểm soát 16K4-1098.
Bản k
06-7-2017
tài sản trong tố tụng hình sự, Uỷ ban nhân dân quận Hồng Bàng, đã kết luận: “Xe máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu LONCIN, Biển kiểm soát 34F7-1072, chất lượng còn khoảng (31-33)%, trị giá 1.500.000
) đồng”.
-
- -
;
Trộm cắp tài sản theo k
tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân
,
bị cáo
từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Đề nghị k
h
.
01-6-2017, bị cáo đi bộ
, đường DL, thấy trong một căn phòng trọ có 01 chiếc xe môtô, 02 chiếc xe đạp, không có người trong phòng. Phát hiện thấy chốt khóa cửa bên ngoài đã bị bẻ cong từ trước, bị cáo dùng tay lay mạnh vài lần thì chốt khóa rời ra. Bị cáo để chốt khóa lên bờ tường bao, rồi đi ra ngoài đường Dầu Lửa quan sát. Tại đây, bị cáo gặp Phùng Thị L và nói cho L biết trong khu nhà trọ có chiếc xe máy, rồi cùng L đi vào trong ngõ. Bị cáo bảo L quay lại nhưng L đề nghị đi cùng cho có nam, có nữ, người ta không nghi ngờ. Khi quay lại khu nhà trọ, bị cáo
cửa phòng trọ, dắt chiếc xe môtô ra ngoài cửa, nổ máy đi ra ngoài đường đưa xe cho L mang đi cầm. Không cầm được xe, bị cáo đã đổi biển kiểm soát để sử dụng xe và tránh bị phát hiện. Đến ngày 02-6-2017, bị cáo bị Công an bắt giữ.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bÞ c¸o
kha
lén lút chiếm đoạt tài sản
ã truy tố; lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi Biên bản ghi lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án;
hiện trường vụ án và vật chứng đã thu hồi, trả lại người bị hại là chiếc xe môtô
, biển kiểm soát 34F7-1072, trị giá 1.500.000 đồng.
B
có 01 tiền án chưa được xóa án tích, 18-6-2014,
. Vì vậy, mặc dù lần này bị cáo chiếm đoạt tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng vẫn đủ yếu tố cầu thành tội Trộm cắp tài sản theo qui định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
BÞ c¸o ®· x©m h¹i ®Õn quyền sở hữu về tài sản của người khác, g©y mÊt trËt tù trÞ an chung. Hành vi ®ã lµ nguy hiÓm cho x· héi cÇn ® îc xö lý theo qui định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo
1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
: Đã c
. Nhưng trong đó 03 tiền án đã được đương nhiên xóa án tích. Nên được coi là chưa can án.
Còn 01 t
,
- -
. Tiền án này đã là yếu tố định tội nên không xem xét là tình tiết tăng nặng, tái phạm. Nhưng, thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, bản thân
, lần này bị cáo phạm tội, mặc dù chiếm đoạt tài sản có giá trị nhỏ, nhưng cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
,
i
. Vì vậy,
.
phần dân sự: Cơ quan c
thu hồi, Q
LONCIN, biển kiểm soát 34F7-1072. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trước đó đã xác nhận về việc được nhận lại tài sản và không còn
. Nên không phải xem xét trách nhiệm bồi thường của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
ật chứng đang tạm giữ: Xét thấy, chiếc Biển kiểm soát 29X7-4577, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội,
, không có giá trị sử dụng, nên
.
Trong vụ án này, Phùng Thị L có hành vi đồng phạm với bị cáo. Nhưng L chưa có tiền án, tiền sự, tr giá
2.000.000 đồng. Do vậy, hành vi của L chưa cấu thành tội phạm. Công an quận Hồng Bàng đã xử phạt hành chính
Đối với Lê Quang D (chồng L) dấu hiệu Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng
trị tài sản
2.000.000 đồng. Do vậy, Công an quận Hồng Bàng đã xử phạt hành chính.
Đối với Lã Minh C biết việc bị cáo trộm cắp tài sản mà không tố giác. Nhưng do tội phạm ít nghiêm trọng, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không khởi tố.
Chiếc xe môtô ATTILA, Biển kiểm soát 16K4-1098, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng tạm giữ khi tiến hành khám xét nhà bị cáo. Hiện chưa tìm được chủ sở hữu xe nên Cơ quan điều tra đã tách ra giải quyết sau.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo V
phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 138;
1 Điều 46
Bộ luật Hình sự;
Xử phạt:
15 (mười lăm)
. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
02-6-2017.
Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử: Tịch thu,
01 chiếc B
29X7-4577.
Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng h
30- -
;
Bị cáo phải nộp: 200.000
án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày: Kể từ ngày
bị cáo
./.
| Nơi nhận: - TAND. thành phố Hải Phòng; - ; - VKSND. quận Hồng Bàng; - Công an quận Hồng Bàng, - Công an thành phố Hải Phòng; - ; - Bị cáo; - ; - ; - Lưu: H , VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn |