vanban.org

Bản án 59/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 59/2024/HS-ST
Ngày: 27-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa và ông Trần Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh ngày 16/02/1994 tại huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1973 và bà Lê Kim P, sinh năm 1977; Bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là người thứ nhất; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1999; bị cáo có 01 con tên Nguyễn Bảo K, sinh năm 2020.

Tiền án: Ngày 29/9/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người” theo Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009. Ngày 06/5/2018, chấp hành xong hình phạt

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1978; Nơi cư trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2. Ông Lý Hồng T1, sinh năm 1960; Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Novo (không rõ biển số) chở Triệu Đông H2 (T2) đi qua khu vực đất trống trước thư viện cũ thuộc khóm Đ, thị trấn N, huyện T, thấy 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá của anh Nguyễn Thành T, cùng xe đẩy bằng gỗ của anh Lý Hồng T1, không người trông giữ, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán phế liệu có tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, C và H2 đưa gầu xe cuốc lên xe đẩy nhưng không được. Cẩu và H2 bàn nhau đến nhà của Nguyễn Huy T3 (T) ở khóm N, thị trấn N, huyện T nhờ Tính tiếp giúp đưa gầu lên xe đẩy, T3 đồng ý vào nhà rủ Trần Công S (T4) đi cùng. Cẩu, H2, T3 và S quay lại khu vực đất trống trước thư viện cũ thì T3 biết C với H2 lấy trộm gầu xe cuốc và T3 đồng ý tiếp giúp. Cẩu giữ hai tay cầm của xe đẩy nâng lên để phần phía sau xe chạm đất còn T3, H2 và S dùng sức lăn gầu xe cuốc lên xe đẩy, sau đó C điều khiển xe mô tô chở H2 ngồi phía sau kéo xe đẩy và gầu xe cuốc ra ngoài, còn T3 điều khiển xe mô tô 68B1-411.09 chở S chạy theo sau, khi cả nhóm kéo xe đẩy chở gầu xe cuốc ra khỏi khu vực cổng thư viện thì thấy Lực lượng Công an tuần tra nên cả nhóm để lại tang vật xe đẩy, gầu xe cuốc bỏ trốn. Ngày 19/10/2023, biết hành vi bị phát hiện C và T3 đến Công an thị trấn N đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

01 (một) gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá, trọng lượng 260 kg;

01 (một) xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ;

01(một) xe gắn máy Honda Winner, màu xanh đen, biển số: 68B1-411.09, số khung: 2601GY219077, số máy: KC26E1048832.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 85, 91/KL-HĐĐGTS các ngày 08/11/2023, 17/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định:

01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá, trọng lượng 260 Kilogram trị giá 13.000.000 đồng;

01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ trị giá 500.000 đồng.

Các ngày 04/3/2024, 22/3/2024, Nguyễn Văn C, Nguyễn Huy T3 (T) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam.

Ngày 03/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá cho anh Nguyễn Thành T, 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ cho anh Lý Hồng T1.

Tại Bản cáo trạng số 50/CT-VKSTS-HS ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Nguyễn Thành T, Lý Hồng T1 trình bày phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. T, T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm.

Triệu Đông H2, Trần Công S trình bày việc C có hành vi lấy trộm gầu xe cuốc và xe đẩy, H2 và S không biết và không bàn bạc gì nhau với C.

Nguyễn Huy T3 khai ngày 12/10/2023 C cùng một người thanh niên sau này T3 mới biết tên H2 đến nhà nhờ T3 tiếp đưa gầu xe cuốc lên xe đẩy. Tính đồng ý rủ Trần Công S (T4) cùng đi đến khu vực đất trống trước thư viện T3 mới biết Cẩu lấy trộm gầu xe cuốc này. Do C là bạn bè nên T3 đồng ý giúp C đưa gầu xe cuốc lên xe đẩy như nội dung vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn C khai nhận đã cùng với Triệu Đông H2, Nguyễn Huy T3 lấy trộm tài sản như nội dung vụ án đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Novo (không rõ biển số) chở Triệu Đông H2 (T2) đi qua khu vực đất trống trước thư viện cũ thuộc khóm Đ, thị trấn N, huyện T, thấy 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá cùng 01 xe đẩy bằng gỗ không người trông giữ, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán phế liệu có tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, bị cáo và H2 đưa gầu xe cuốc lên xe đẩy nhưng không được. Bị cáo và H2 bàn nhau đến nhà của Nguyễn Huy T3 (T) ở khóm N, thị trấn N, huyện T nhờ Tính tiếp giúp đưa gầu lên xe đẩy, T3 đồng ý vào nhà rủ Trần Công S (T4) đi cùng. Bị cáo, H2, T3 và S quay lại khu vực đất trống trước thư viện cũ thì T3 biết bị cáo với H2 lấy trộm gầu xe cuốc và T3 đồng ý tiếp giúp. Bị cáo giữ hai tay cầm của xe đẩy nâng lên để phần phía sau xe chạm đất còn T3, H2 và S dùng sức lăn gầu xe cuốc lên xe đẩy, sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô chở H2 ngồi phía sau kéo xe đẩy và gầu xe cuốc ra ngoài, còn T3 điều khiển xe mô tô 68B1-411.09 chở S chạy theo sau, khi cả nhóm kéo xe đẩy chở gầu xe cuốc ra khỏi khu vực cổng thư viện thì thấy Lực lượng Công an tuần tra nên cả nhóm để lại tang vật xe đẩy, gầu xe cuốc bỏ trốn. Ngày 19/10/2023, biết hành vi bị phát hiện nên bị cáo đến Công an thị trấn N đầu thú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như cáo trạng.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đối với: Nguyễn Huy T3 bỏ trốn khỏi nơi cư trú; Trần Công S và Triệu Đông H2 ngoài lời khai của C ra không còn chứng cứ nào khác nên ngày 26/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Ngày 03/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá cho anh Nguyễn Thành T, 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ cho anh Lý Hồng T1. Đối với 01(một) xe gắn máy Honda Winner, màu xanh đen, biển số: 68B1-411.09, số khung: 2601GY219077, số máy: KC26E1048832 đang được tạm giữ trong vụ án khác để tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Trong vụ án này người bị hại vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra người bị hại đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa.

Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đầy đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, tại khu vực thư viện cũ thuộc khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá, trọng lượng 260 Kilogram có giá trị 13.000.000 đồng của anh Nguyễn Thành T, 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ có giá trị 500.000 đồng của anh Lý Hồng T1.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo về tội danh, Điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được việc nào đúng, việc nào sai, việc nào nên làm và việc nào không nên làm. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam nên bị cáo đã trộm cắp tài sản của các bị hại với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải có mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 29/9/2010 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người” theo Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009. Ngày 06/5/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung nên chưa được xóa án tích. Ngày 12/10/2023, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đầu thú, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phù hợp với quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Ngày 03/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá cho anh Nguyễn Thành T, 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ cho anh Lý Hồng T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01(một) xe gắn máy Honda Winner, màu xanh đen, biển số: 68B1-411.09, số khung: 2601GY219077, số máy: KC26E1048832 đang được tạm giữ trong vụ án khác để tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ