vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: N.N.M, 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÁNH BẠC - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày: 13-07-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đinh Kim Hoàng.

2/ Bà Lê Thị Kim Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh là Thư ký Toà án nhân dân

Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 07 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 06 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ N.N.M; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

nơi cư trú: Đ.V.B phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông N.V.T và bà D.T.C; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 1989, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù

nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 493/HSST ngày 29/08/1989).

- Năm 2005, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01

năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Bản án số 39/HSST ngày 21/06/2005).

Bị cáo tại ngoại “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

2/ N.T.M.H (tên gọi khác:H.P.Đ); sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại

Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: T.C, phường b, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông N.V.H và bà C.T.M.D; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 1989, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử

phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (Bản án số 219/HSST ngày 30/12/1989).

- Năm 1994, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử

phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” (Bản án số 102/HSST ngày 04/07/1994).

- Năm 1996, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù

về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 44/HSPT ngày 14/01/1997).

Bị bắt tạm giam ngày 02/06/2023 tại Công an quận P.N, Thành phố Hồ Chí

Minh theo Quyết định tạm giam số 48 ngày 02/06/2023 về tội Trộm cắp tài sản “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà N.T.N.H sinh năm 1979 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông H.H, sinh năm 1965. Là người thừa kế theo pháp luật của bà

H.T.K.H, sinh năm 1962 (chết 15/06/2022).

Địa chỉ: Đ.V.B, phường c, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 ngày 12/01/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công an phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính phía trước nhà số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện N.N.M đang tổ chức cho D.H.N, L.T.T.T, H.T.K.H, H.T.K.H, N.T.M.H cùng nhiều đối tượng khác tham gia đánh bài “bửu” được thua bằng tiền. Một số đối tượng nhìn thấy Công an đến đã bỏ chạy thoát, Cơ quan Công an thu giữ: 01 tấm bạt kích thước 80x90cm màu trắng dùng làm chiếu bạc; 01 bộ bài đang đánh có 40 lá bài; 01 bịch nylon màu đen chứa 24 bộ bài tây (mỗi bộ có 40 lá bài); 03 chiếc ghế nhựa và số tiền trong người D.H.N, L.T.T.T, H.T.K.H, H.T.K.H, N.T.M.H dùng để đánh bạc là 43.841.000 đồng.

Cụ thể như sau:

Đối với N.N.M: Do bản thân không có tiền tiêu xài, N.N.M nảy sinh ý định

tổ chức đánh bài “bửu” để thu tiền “xâu”. Để thực hiện, N.N.M mua nhiều bộ bài Tây, nhặt 01 tấm bạt màu trắng kích thước 80x90cm để làm chiếu bạc, chuẩn bị ghế ngồi. Từ ngày 05/01/2018, N.N.M bắt đầu tổ chức đánh bài “bửu” tại trước nhà số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Hình thức đánh bài là sử dụng bài Tây loại 52 lá, bỏ các lá bài J, Q, K còn lại 40 lá. Người làm “cái” chia cho mỗi tụ 04 lá bài, sau đó sắp xếp thành 02 lá ở trên và 02 lá ở dưới đếm nút lớn, bé, tính ăn thua với người làm “cái”. Mỗi ván bài có tối đa 01 tụ “cái” và 09 tụ “con”. Hằng ngày, N.N.M tổ chức đánh bài từ 19 giờ đến 23 giờ cho khoảng 14 đến 15 người tham gia. N.N.M quy định nếu ai có tiền thì đứng ra làm tụ “cái”, tự chia bài rồi so bài với các tụ “con” để quyết định thắng thua. Nếu tụ “cái” đánh thắng sẽ trả tiền “xâu” từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng/ván, tụ “con” đánh thắng 02 ván trả tiền “xâu” 5.000 đồng. Trung bình mỗi ngày N.N.M thu được tiền “xâu” từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.

Khoảng 19 giờ 30 ngày 12/01/2018, N.N.M tiếp tục đem tấm bạt, nhiều bộ

bài, ghế ngồi đến trước nhà số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức đánh bài và trực tiếp thu tiền “xâu”. Sau đó, N.T.M.H, L.T.T.T, D.H.N, H.T.K.H, H.T.K.H và nhiều đối tượng khác (không rõ lai lịch) lần lượt đến chỗ của của N.N.M để tham gia đánh bài “bửu” thắng thua bằng tiền. Khoảng 21 giờ cùng ngày, N.N.M có việc vào nhà nên nhờ cháu chồng là N.T.N.H đang ngồi gần đó thu giúp tiền “xấu”. Khoảng 20 phút sau, N.N.M quay lại sòng bài tiếp tục thu tiền “xâu” cho đến 21 giờ 30 cùng ngày thì sòng bài bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Quá trình điều tra, N.N.M khai nhận trong ngày 12/01/2018 đã thu tiền “xâu” được 528.000 đồng, trong đó thu của D.H.N 200.000 đồng, H.T.K.H 10.000 đồng, H.T.K.H 20.000 đồng và của L.T.T.T 50.000 đồng do N.T.N.H đưa.

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ trong

người của N.N.M số tiền 2.328.000 đồng (trong đó có 528.000 đồng là tiền thu “xâu” trong ngày 12/01/2018, còn lại là tiền cá nhân); các vật dụng dùng để tổ chức đánh bài, bao gồm: 01 bộ bài đang đánh có 40 lá bài; 01 bịch nylon màu đen chứa 24 bộ bài tây đã sử dụng (mỗi bộ có 40 lá bài); 01 tấm bạt kích thước 80x90cm màu trắng và 03 chiếc ghế nhựa các loại.

Đối với N.T.M.H: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/01/2018, N.T.M.H đem

theo 10.350.000 đồng đến trước số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia đánh bài “bửu”. N.T.M.H đặt chung tụ với 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) hai ván thì thua hết 350.000 đồng. Sau đó, N.T.M.H đứng ra làm “cái” hai ván thì tiếp tục thua thêm gần 10.000.000 đồng. Do đó, N.T.M.H đi ra ngoài tiệm cầm đồ để cầm sợi dây chuyền được 15.000.000 đồng rồi quay lại sòng bài để đánh tiếp thì bị Cơ quan Công an đến kiểm tra và mời về làm việc. N.T.M.H xác định trong lúc làm “cái” thì có L.T.T.T tham gia đặt tụ, những người còn lại N.T.M.H không nhớ.

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ của

N.T.M.H số tiền 15.240.000 đồng được bị cáo khai nhận là tiền dùng để đánh bạc.

Đối với L.T.T.T: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/01/2018, L.T.T.T cùng

chồng là D.H.N đến nhà Đ.V.B phường a Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thăm người thân thì thấy có sòng bài “bửu” nên cùng vào tham gia. L.T.T.T đem theo 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc. L.T.T.T đặt tụ khoảng 04 đến 05 ván, mỗi ván từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng do N.T.M.H làm “cái”. Sau đó, L.T.T.T đúng ra làm “cái” khoảng 04 đến 05 ván, đánh thắng được 9.800.000 đồng, đưa tiền “xấu” cho N.T.N.H 50.000 đồng. L.T.T.T xác định khi làm “cái” có N.T.M.H, H.T.K.H, H.T.K.H tham gia đặt tụ. Sau đó, L.T.T.T mệt nên chồng là D.H.N vào thay L.T.T.T làm “cái”, L.T.T.T có đưa cho D.H.N số tiền 1.300.000 đồng để trả tiền thua bài. D.H.N làm cái được khoảng 05 ván thì bị Cơ quan Công an đến kiểm tra.

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ của

L.T.T.T số tiền 13.537.000 đồng được bị cáo khai nhận là tiền dùng để đánh bạc.

Đối với D.H.N: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/01/2018, D.H.N chở vợ là

L.T.T.T đến nhà số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy có sòng bài "bửu" đang đánh và N.T.M.H đang làm “cái”. L.T.T.T vào tham gia đánh bài rồi đứng ra làm “cái”, D.H.N ngồi uống cà phê gần đó canh chừng cho Thảo. Một lúc sau, L.T.T.T mệt nên D.H.N vào làm “cái” thay. D.H.N mang theo 15.000.000 đồng để tham gia làm “cái” đánh bài. D.H.N làm “cái” được 05 ván; 02 ván đầu thắng 1.200.000 đồng, trả tiền xâu cho Mai 200.000 đồng; 02 ván sau thua 2.800.000 đồng và có lấy của L.T.T.T 1.300.000 đồng để trả tiền thua bài. Khi D.H.N làm “cái” đến ván thứ 05 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra. D.H.N xác định khi làm “cái” có N.T.M.H, H.T.K.H, H.T.K.H tham gia đánh bài, còn L.T.T.T ngồi phía sau hỗ trợ và quan sát không cho các tụ “con” chơi ăn gian, đổi bài.

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ của

D.H.N số tiền 37.939.500 đồng, trong đó 14.500.000 đồng được bị cáo khai nhận là tiền dùng để đánh bạc.

Đối với H.T.K.H: Khoảng 19 giờ ngày 12/01/2018, H.T.K.H đem theo

761.000 đồng đến trước số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia đánh bài “bửu”. H.T.K.H ngồi tụ chính tham gia đánh nhiều ván với các những người làm “cái” là N.T.M.H, L.T.T.T và D.H.N, mỗi ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, trả tiền xâu cho N.N.M 10.000 đồng. Khi L.T.T.T và D.H.N làm “cái”, H.T.K.H có tham gia đặt chung vào tụ của H.T.K.H mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi D.H.N làm “cái” ván thứ 5 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra.

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ của

H.T.K.H số tiền 361.000 đồng được bị cáo khai nhận là tiền dùng để đánh bạc.

Đối với H.T.K.H: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 12/01/2018, H.T.K.H đem

theo 1.023.000 đồng đến trước số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia đánh bài “bửu”. Khi N.T.M.H làm cái thì H.T.K.H đứng xem. Đến L.T.T.T và D.H.N làm “cái”, H.T.K.H đặt chung tụ với H.T.K.H nhiều ván, mỗi ván 100.000 đồng đến 200.000 đồng, tổng cộng thua 800.000 đồng và có trả tiền xâu cho N.N.M 20.000 đồng. Khi D.H.N làm “cái” đến ván thứ 5 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra.

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu giữ của

H.T.K.H số tiền 203.000 đồng được bị cáo khai nhận là tiền dùng để đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo

đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKSQ4 ngày 10/05/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo N.N.M về tội “Tổ chức đánh bạc “ theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo N.T.M.H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thừa nhận hành vi phạm

tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Đồng thời, bản thân các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái nên xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình

bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo N.N.M về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo N.T.M.H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo N.N.M từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, N.T.M.H từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Về hình phạt bổ sung: đề nghị phạt bổ sung N.N.M 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước và miễn hình phạt bổ sung đối với N.T.M.H. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây có 40 lá bài đang sử dụng để đánh bạc, 01 (một) tấm bạt màu trắng kích thước 80 x 90 cm dùng làm chiếu bạc; 03 (ba) ghế nhựa các loại dùng để ngồi đánh bạc, 01 (một) bịch nylon bên trong chứa 24 bộ bài tây, mỗi bộ có 40 lá bài; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 528.000 đồng là tiền N.N.M thu “xâu” của các con bạc, 10.000 đồng là tiền N.T.N.H lấy tiền “xâu” dùm nhưng chưa đưa lại cho N.N.M, 361.000 đồng là tiền H.T.K.H dùng để đánh bạc, 203.000 đồng là tiền H.T.K.H dùng để đanh bạc; 13.537.000 đồng là tiền L.T.T.T dùng để đánh bạc, 14.500.000 đồng là tiền D.H.N dùng để đánh bạc, 15.240.000 đồng là tiền N.T.M.H dùng để đánh bạc; Trả lại N.N.M số tiền 1.800.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo; Trả lại N.T.N.H số tiền 315.000 đồng; Giao Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ số tiền 23.439.500 đồng của D.H.N để tiếp tục điều tra; Trả lại cho người đại diện hợp pháp của H.T.K.H 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Mobell màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về pháp luật tố tụng: Ngày 11 tháng 10 năm 2022, Tòa án nhân dân

Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý hồ sơ vụ án số 110/2022/TLST-HS đối với các bị cáo theo nội dung Cáo trạng số 91/CT-VKSQ4 ngày 05/10/2022. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung theo nội dung Quyết định số 52/2022/HSST-QĐ ngày 23/11/2022. Ngày 15 tháng 02 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Cáo trạng số 28/CT-VKS để thay thế Cáo trạng số 91/CT-VKSQ4 ngày 05/10/2022. Ngày 21 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại hồ sơ vụ án số 17/2023/TLST-HS đối với các bị cáo. Tại phiên tòa ngày 20/03/2023, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung theo nội dung Quyết định số 09/2023/HSST-QĐ ngày 20/03/2023. Ngày 10 tháng 05 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Cáo trạng số 52/CT-VKS để thay thế Cáo trạng số 91/CT-VKSQ4 ngày 05/10/2022 và Cáo trạng số 28/CT-VKS để thay thế Cáo trạng số 28/CT-VKSQ4 ngày 15/02/2023. Ngày 17 tháng 05 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại hồ sơ vụ án số 50/2023/TLST-HS đối với các bị cáo. Ngày 01 tháng 06 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 15/06/2023. Tại phiên tòa ngày 15/06/2023, bị cáo N.T.M.H vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Tòa án không thể tiến hành xét xử vụ án được. Ngày 15/06/2023, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 117/2023/QĐXXST-HS vào lúc 09 giờ ngày 13/07/2023. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N.N.M và N.T.M.H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau

cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/01/2018, tại trước nhà số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, N.N.M đã cung cấp công cụ, phương tiện dùng để đánh bạc gồm: thảm, bài tây, ghế ngồi tổ chức cho N.T.M.H, L.T.T.T, D.H.N, H.T.K.H, H.T.K.H đánh bài bửu được thua bằng tiền với số tiền tổng cộng dùng để đánh bạc là 43.841.000 đồng, thu tiền xâu được 528.000 đồng. Hành vi của bị cáo N.N.M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo N.T.M.H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, bị cáo N.N.M còn khai nhận: Từ ngày 05/01/2018 đến

ngày 11/01/2018, với thủ đoạn tương tự, N.N.M đã tổ chức đánh bài “bửu” tại trước số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cho nhiều đối tượng tham gia. Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra, do không xác định được số người tham gia đánh bạc cũng như số tiền dùng để đánh bạc. Đồng thời, ngoài lời khai của bị cáo thì trong hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo đã tổ chức đánh bạc nhiều lần nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì chưa đủ căn cứ để áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Đối với H.T.K.H, quá trình điều tra xác định đã chết ngày 15/06/2022 nên

Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh không xử lý. Đối với D.H.N, L.T.T.T, H.T.K.H, quá trình điều tra không xác định được nơi cư trú, không biết hiện đang ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Đối với D.H.N, quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ trong người của

Nghiệp số tiền 37.939.500 đồng. Tại Cơ quan điều tra, D.H.N khai nhận chỉ sử dụng số tiền 14.500.000 đồng để đánh bạc. Đồng thời, Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh không chứng minh được số tiền còn lại 23.439.500 đồng mà Nghiệp cất giữ nhằm mục đích đánh bạc, nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì không đủ căn cứ xác định số tiền 23.439.500 đồng là tiền D.H.N dùng để đánh bạc.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh còn

bắt giữ một số đối tượng liên quan đến sòng bạc do N.N.M tổ chức. Quá trình điều tra thể hiện:

Đối với N.T.T.H khai nhận có đem theo 600.000 đồng, N.T.T khai nhận có

đem theo 300.000 đồng đến trước số Đ.V.B, phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia đánh bài. Tuy nhiên, tại thời điểm Công an tiến hành kiểm tra hành chính cũng như quá trình điều tra không xác định được N.T.T.H và N.T.T tham gia đánh bạc với ai nên không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Đối với N.T.N.H có hành vi giúp sức cho N.N.M lấy tiền “xâu” số tiền

60.000 đồng. Tuy nhiên, hành vi của N.T.N.H chỉ mang tính nhất thời, bộc phát. Mặt khác, giữa N.N.M và N.T.N.H không có sự bàn bạc, phân công, cũng như Huệ không được hưởng lợi gì từ việc lấy tiền “xâu” cho Mai. Xét, hành vi của N.T.N.H không đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã không xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Đối với N.N.B,P.T.T.S, N.T.L.D quá trình điều tra xác định không tham gia

đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã không xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Đối với hành vi của N.V.S tri hô để giải tán sòng bài khi thấy Công an đến

kiểm tra. Quá trình điều tra xác định N.V.S không được bàn bạc thực hiện hành vi cảnh giới, không được N.N.M thuê mướn hay giao làm nhiệm vụ cảnh giới cho sòng bài, giữa N.V.S và N.N.M có mối quan hệ mẹ con, nên không có cơ sở xác định Sang đồng phạm giúp sức Mai tổ chức đánh bạc. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021.

Đối với các đối tượng khác đến tham gia đánh bạc tại trước số Đ.V.B,

phường a, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh do N.N.M tổ chức đã bỏ chạy thoát, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đây là một tệ nạn và

cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm hình sự khác làm xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn cờ bạc cũng như giữ gìn trật tự công cộng thì cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm.

Về nhân thân:

- Bị cáo N.N.M không có tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân xấu.

Cụ thể như sau: Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân vào năm 1989. Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội ‘Trộm cắp tài sản công dân” vào năm 1994. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội ‘Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” vào năm 1996. Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Bị cáo N.T.M.H không có tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân

xấu. Cụ thể như sau: Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân vào năm 1989. Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân vào năm 1994. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân vào năm 1996. Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

- Vật chứng của vụ án bao gồm: 01 (một) bộ bài tây có 40 lá bài đang sử

dụng để đánh bạc, 01 (một) tấm bạt màu trắng kích thước 80 x 90 cm dùng làm chiếu bạc; 03 (ba) ghế nhựa các loại dùng để ngồi đánh bạc, 01 (một) bịch nylon bên trong chứa 24 bộ bài tây, mỗi bộ có 40 lá bài. Xét, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy;

- Thu giữ của N.N.M số tiền 2.328.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo khai

nhận trong đó có 528.000 đồng là tiền do bị cáo thu xâu từ các con bạc vào ngày 12/01/2018, còn lại 1.800.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo. Xét, đối với số tiền 528.000 là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 1.800.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo nên trả lại.

- Thu giữ của N.T.N.H số tiền 325.000 đồng. Quá trình điều tra thể hiện,

trong đó có 10.000 đồng là tiền N.T.N.H lấy xâu từ con bạc dùm N.N.M nhưng chưa đưa lại, còn lại 315.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo. Xét, đối với số tiền 10.000 là số tiền do hành vi phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 315.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo nên trả lại.

- Thu giữ của L.T.T.T số tiền 13.537.000 đồng. Xét, đây là số tiền do

L.T.T.T dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Thu giữ của D.H.N số tiền 37.939.500 đồng. Quá trình điều tra thể hiện,

trong đó có 14.500.000 đồng là tiền D.H.N dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền còn lại là 23.439.500 đồng là tiền cá nhân của D.H.N nên trả lại. Tuy nhiên, do hiện nay D.H.N đã bỏ trốn và Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đang truy nã đối với D.H.N. Khi nào bắt được sẽ đề nghị xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ số tiền 23.439.500 đồng để tiếp tục điều tra.

- Thu giữ của H.T.K.H số tiền 361.000 đồng. Xét, đây là số tiền do H.T.K.H

dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Thu giữ của H.T.K.H 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Mobell màu đen.

Xét, đây là tài sản cá nhân của H.T.K.H nên trả lại. Quá trình điều tra xác định H.T.K.H đã chết ngày 15/06/2022 nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại tài sản trên cho người thừa kế theo pháp luật của H.T.K.H.

- Thu giữ của H.T.K.H số tiền 203.000 đồng. Xét, đây là số tiền do H.T.K.H

dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Thu giữ của N.T.M.H số tiền 15.240.000 đồng. Xét, đây là số tiền do bị

cáo dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ

luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: N.N.M, 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình

sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: N.T.M.H, 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày 02/06/2023.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ

sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây có 40 lá bài đang sử dụng để đánh

bạc, 01 (một) tấm bạt màu trắng kích thước 80 x 90 cm dùng làm chiếu bạc; 03 (ba) ghế nhựa các loại dùng để ngồi đánh bạc, 01 (một) bịch nylon bên trong chứa 24 bộ bài tây, mỗi bộ có 40 lá bài.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 44.379.000 đồng.

- Trả lại N.N.M số tiền 1.800.000 đồng.

- Trả lại N.T.N.H số tiền 315.000 đồng.

- Giao Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục

tạm giữ số tiền 23.439.500 đồng của D.H.N để điều tra.

- Trả lại 01 (một) điện thoại di dộng hiệu Mobell màu đen cho ông H.H là

người thừa kế theo pháp luật của H.T.K.H.

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng số 07/2023

ngày 27/10/2022 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/02/2020, Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 28/12/2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/10/2022 ).

4. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm

nghìn đồng).

5. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2021:

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền

kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ