vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”,

Xử phạt bị cáo Trần Viết T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2022. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”,
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HS-ST
Ngày 23 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tho Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2022;

Đối với bị cáo: Trần Viết T, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1990 tại: Xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Tr, Xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Viết H và bà Lê Thị Ch; Có vợ là Lê Thị Th và 02 con;

Tiền án: Ngày 28/9/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm, xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 267/HS-PT, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2021; nộp xong tiền án phí ngày 14/12/2020.

Tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2022 đến nay; Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Trần Viết H, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn Nh, Xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

2. Lê Thị C, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn Nh, Xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

3. Lê Thị Th, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn Tr, Xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 10/01/2022 Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hoá đang làm nhiệm vụ tại thôn Trung Thôn, Xã B, huyện T thì phát hiện, bắt quả tang Trần Viết T đang có hành vi vận chuyển 02 thùng cát tông từ cổng vào trong nhà, bên trong có 90 cây thuốc lá điếu nhập lậu. Ngoài ra tổ công tác còn phát hiện và thu giữ tại cửa phòng khách 02 thùng cát tông bên trong có 100 cây thuốc lá điếu nhập lậu; thu giữ trên người Trần Viết T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà ông Trần Viết H (bố đẻ của T) ở thôn Nhuế Thôn, Xã B, huyện T, Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ 128 cây thuốc lá điếu nhập lậu. Toàn bộ số thuốc lá trên là của Trần Viết T, T mua về cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.

Về nguồn gốc số thuốc lá bị phát hiện và thu giữ là do T đặt mua trên mạng Internet, thông qua tài khoản Facebook cá nhân là “Trần T” nhắn tin (Messenger) vào hai tài khoản Facebook “Omachi Omachi” và “Danh vo” đặt mua 318 cây thuốc lá (01 cây thuốc lá chứa 10 bao thuốc lá) = 3.180 bao thuốc lá, với tổng số tiền là 35.000.000 đồng. Phương thức giao, nhận hàng và thanh toán qua đơn vị vận chuyển Giao hàng tiết kiệm, hình thức Ship Cod (nhận hàng thanh toán bằng tiền mặt) T đã thanh toán được số tiền 18.000.000 đồng, còn nợ lại 17.000.000 đồng hẹn khi nào bán được hàng sẽ trả. T đặt hàng vào cuối tháng 11 năm 2021, khoảng một tuần sau khi đặt hàng T nhận được khoảng hơn 100 cây thuốc lá được đựng trong 03 thùng cát tông dán kín băng dính ở bên ngoài, số thuốc lá trên T mang về nhà bố đẻ là ông Trần Viết H để cất giấu. Ngày 09/01/2022 T nhận được 02 thùng cát tông chứa 100 cây thuốc lá, T mang cất giấu tại phòng khách nhà ở của mình ở thôn Trung Thôn, Xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 10/01/2022 T tiếp tục nhận được 02 thùng cát tông chứa 90 cây thuốc lá điếu nhập lậu, khi đang vận chuyển vào trong nhà thì bị Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hóa phát hiện, bắt quả tang.

Tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone thu giữ của Trần Viết T không đăng nhập được vào tài khoản Facebook tên “Trần T”, bản thân Trần Viết T cũng không nhớ tên đăng nhập và mật khẩu. Kiểm tra tin nhắn SMS, tin nhắn Zalo cũng không phát hiện nội dung trao đổi liên quan đến việc mua bán thuốc lá nhập lậu, do đó không xác định được các nội dung tin nhắn T trao đổi với đối tượng bán thuốc lá điếu nhập lậu.

Ngày 11/01/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 3.180 bao thuốc lá điếu thu giữ của T, nghi là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại kết luận giám định số 264/C09-P4 ngày 12/01/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên là thuốc lá điếu không được tiêu thụ tại Việt Nam. Theo thông tư 124/2007/TT-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính thuốc lá điếu nhập khẩu vào Việt Nam phải có “tem thuốc lá điếu nhập khẩu” do Bộ Tài chính nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát hành và dán trên từng bao. Hiện tại, Viện Khoa học hình sự không đủ điều kiện để giám định các mẫu thuốc lá mang nhãn hiệu trên là của nước nào sản xuất”.

Qúa trình điều tra không xác định được người đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Trần Viết T, nên không có căn cứ để xử lý.

Tiến hành làm việc với Công ty Cổ phần giao hàng tiết kiệm xác định người giao hàng cho Trần Viết T là Hoàng Văn Dương, sinh năm 1991, trú tại thôn Nam Thượng, xã Tây Hồ, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Dương là nhân viên giao các thùng cát tông cho Trần Viết T và nhận tiền từ T. Tuy nhiên Dương không biết bên trong các thùng cát tông chứa thuốc lá nhập lậu, Dương chỉ giao hàng theo sự điều phối của Công ty cổ phần giao hàng tiết kiệm mà không được kiểm tra hàng hóa của khách hàng theo yêu cầu của công việc. Đối với số tiền đã nhận từ Trần Viết T thì sẽ đưa lại cho thu ngân, thu ngân có trách nhiệm chuyển về Công ty để đối soát và trả cho khách hàng theo địa chỉ khách đã đăng ký trong đơn hàng trước đó. Tuy nhiên quá trình xác minh không xác định được cụ thể tên tuổi, địa chỉ của người gửi hàng và nhận tiền do không còn lưu trữ trên hệ thống của Giao hàng tiết kiệm. Vì vậy không có căn cứ để truy thu số tiền do việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu mà có.

Những người ở cùng Trần Viết T gồm: ông Trần Viết H (bố đẻ), bà Lê Thị C (mẹ đẻ), bà Lê Thị Thanh (mẹ vợ) và chị Lê Thị Th (vợ) đều khai không biết việc T cất giấu, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu; những thùng hàng T mang về được dán kín bên ngoài, nên không biết bên trong chứa thuốc lá điếu nhập lậu.

Vật chứng của vụ án: 100 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 GOLD màu xanh; 84 cây thuốc lá nhãn hiệu blend no 555, 200/20, smoking kill, màu xanh; 32 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 blend no 555 ORIGINAL, 200/20, smoking kills màu vàng; 10 cây thuốc lá nhãn hiệu MARLBORO GOLD màu trắng; 08 cây thuốc lá nhãn hiệu RAI SON ICE CAFE, Smoke causes cancer, màu xanh trắng; 03 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 ORIGINAL màu vàng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DUNHILL TOBACA OF LONDON LIMITED màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Các vật chứng trên đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 55/CTr-VKSTX ngày 22/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Trần Viết T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Viết T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Viết T từ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu, tiêu hủy đối với: 07 thùng bìa cát tông được dán kín, niêm phong, bên trong gồm: 100 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 GOLD màu xanh; 84 cây thuốc lá nhãn hiệu blend no 555, 200/20, smoking kill, màu xanh; 32 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 blend no 555 ORIGINAL, 200/20, smokings màu vàng; 10 cây thuốc lá nhãn hiệu MARLBORO GOLD màu trắng; 08 cây thuốc lá nhãn hiệu RAI SON ICE CAFÉ, Smoke causes cancer, màu xanh trắng; 03 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 ORIGINAL màu vàng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DUNHILL TOBACO OF LONDON LIMITED, màu đỏ.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Trần Viết T.

Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ mức hình phạt, được hưởng mức án thấp nhất để sớm về hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; kết luận giám định; vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 10/01/2022 tại nơi ở của Trần Viết T tại thôn Trung Thôn, Xã B, huyện T, khi T đang có hành vi vận chuyển 90 cây thuốc lá điếu nhập lậu từ cổng vào trong nhà cất giấu thì bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hoá phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành khám xét nơi ở của T còn phát hiện và thu giữ tại phòng khách 100 cây thuốc lá điếu nhập lậu; Tiến hành khám xét nơi ở của ông Trần Viết H (là bố của T) tại thôn Nhuế Thôn, Xã B, huyện T thu giữ 128 cây thuốc lá điếu nhập lậu. Toàn bố số thuốc lá điếu thu giữ khi bắt quả tang và tiến hành khám xét nơi ở của T và ông H nói trên, đều là do T đặt mua, đem về cất giấu nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Như vậy, Trần Viết T phải chịu trách nhiệm với tổng số thuốc lá điếu nhập lậu là 318 cây x 10 bao/1 cây = 3.180 bao.

Bị cáo Trần Viết T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Viết T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa cấm, trong đó có thuốc lá điếu nhập lậu. Bị cáo nhận thức được rằng việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu dùng, ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh hợp pháp của các tổ chức kinh tế, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất buôn bán hàng hóa, chống hàng giả của các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng do không có ý thức chấp hành pháp luật, vì mục đích lợi nhuận bị cáo đã cố ý thực hiện. Vì vậy việc đưa vụ án ra xét xử đối với bị cáo và lên một mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ và H quả gây ra là rất cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Viết T có nhân thân xấu, vào ngày 28/9/2020 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm, xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, mặc dù đã chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2021 và nộp xong tiền án phí ngày 14/12/2020, nhưng bị cáo chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "tái phạm" được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Viết T đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm hòa nhập với xã hội.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo Trần Viết T có nhân thân xấu, đang có án tích lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng, vì vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, bắt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Xử phạt bị cáo với mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, như vậy là phù hợp. Đối với thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam sẽ được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với: 07 thùng bìa cát tông được dán kín, niêm phong, bên trong gồm: 100 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 GOLD màu xanh; 84 cây thuốc lá nhãn hiệu blend no 555, 200/20, smoking kill, màu xanh; 32 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 blend no 555 ORIGINAL, 200/20, smokings màu vàng; 10 cây thuốc lá nhãn hiệu MARLBORO GOLD màu trắng; 08 cây thuốc lá nhãn hiệu RAI SON ICE CAFÉ, Smoke causes cancer, màu xanh trắng; 03 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 ORIGINAL màu vàng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DUNHILL TOBACO OF LONDON LIMITED, màu đỏ. Đây là vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của bị cáo T, xác định là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Vật chứng hiện đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 190; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”,

Xử phạt bị cáo Trần Viết T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2022.

2. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu, tiêu hủy đối với: 07 thùng bìa cát tông được dán kín, niêm phong, bên trong gồm: 100 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 GOLD màu xanh; 84 cây thuốc lá nhãn hiệu blend no 555, 200/20, smoking kill, màu xanh; 32 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 blend no 555 ORIGINAL, 200/20, smokings màu vàng; 10 cây thuốc lá nhãn hiệu MARLBORO GOLD màu trắng; 08 cây thuốc lá nhãn hiệu RAI SON ICE CAFÉ, Smoke causes cancer, màu xanh trắng; 03 cây thuốc lá nhãn hiệu 555 BLEND NO 555 ORIGINAL màu vàng; 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DUNHILL TOBACO OF LONDON LIMITED, màu đỏ.

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng, số máy MWLU2KH/A, Số sê-ri: DNPZPAGCN 736, bên trong gắn 01 thẻ sim.

Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, hiện trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 79 ngày 07/9/2022.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Viết T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ