- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Long Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2021/HS-ST Ngày: 15/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Công Hạnh. Cán bộ hưu trí
2. Ông Lê Nghĩa. Nguyên là giáo viên trường THCS Nguyễn Văn Trỗi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Huỳnh Long T), sinh năm: 1995; Trú tại: đường D, phường S, thành phố T, tỉnh Phú Yên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: lớp 8/12; cha Huỳnh Long P và mẹ Bùi Thị L; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út. Tiền án: Ngày 18/12/2015, bị TAND TP.T xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/5/2016; Ngày 19/9/2018, bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 28/9/2018 bị TAND thành phố T xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Toàn đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”). Tổng hợp hình phạt 02 bản án là 03 năm 6 tháng tù. Chấp hành xong ngày 14/01/2021; Nhân thân: Ngày 05/3/2018, Công an TP.T xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/2/2021 tại nhà tạm giữ công an huyện S. Có mặt
-Người bị hại: Văn Công P, sinh ngày 25/10/2005. Địa chỉ: đường T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp ông Văn Tấn D, sinh năm: 1974 và bà Hồ Thị Tuyết M, sinh năm: 1973. Địa chỉ: đường T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người làm chứng:
1.Văn Văn Tấn D, sinh năm: 1974 và bà Hồ Thị Tuyết M, sinh năm: 1973. Địa chỉ: đường T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
2.Văn Thị Mỹ C, sinh năm: 1997. Địa chỉ: đường T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt
3. Võ Quốc V, sinh năm: 1970. Địa chỉ: đường T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
4. Nguyễn Đức T, sinh năm: 1994. Địa chỉ: đường C, phường T, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/02/2021, Huỳnh Long T điện thoại cho Nguyễn Đức T1 đến chở Toàn đi đòi nợ bà T2 nhà ở phường 9. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô biển số 78C1-422.58 chở Toàn. Khi đến khu vực phường 9, T chở T1. Khi đi ngang qua nhà chị C thì T nói TT2đi về đi, khi nào lấy được nợ thì T tự đón xe taxi đi về nhà. Sau đó T đi bộ ngược lại và lẻn vào nhà chị C, thấy trong phòng khách có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus, màu vàng đồng, ốp lưng màu đà và 81.000đ của em ruột Văn Công Phú và lén lút lấy trộm thì bị Phú đi bộ qua nhà chị C phát hiện hô hoán “trộm, trộm”. T bỏ chạy ngoài đường thì P chạy theo ôm T lại. Cùng lúc này ông Văn Tấn D, bà Hồ Thị Tuyết M vừa đi làm về chạy đến bắt giữ T và hô hoán người dân xung quanh đến hỗ trợ. Trong lúc giằng co giữ T thì điện thoại và số tiền 81.000đ của P từ trên người của T rơi xuống đường. Sau khi người dân điện thoại báo công an thì T van xin đừng báo công an, T nói sợ đi tù và hứa bồi thường số tiền 1.000.000đ nếu tha cho T. Sau đó công an phường 9 đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, bộ nhớ 64GB, bị nứt và bị bung màn hình trị giá 2.790.000đ
Về dân sự: Bị hại Văn Công P yêu cầu bồi thường số tiền 2.950.000đ chi phí sửa chữa điện thoại. Bị cáo chưa bồi thường.
Vật chứng vụ án: Đã trả lại cho bị hại 01 điện thoại di động Iphone 6S plus màu vàng đồng và số tiền 81.000đ.
Đang tạm giữ 01 điện thoại di động SamsungGalaxyA10 màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu xám đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen trên mũ có chữ CKC Chun Kua, 01 áo khoác Jean màu xanh lá cây, 01 quần Jean màu xanh xám của Huỳnh Long T.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 22/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố bị cáo Huỳnh Long T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/02/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 2.790.000đ về chi phí sửa chữa điện thoại
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai màu xám đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen trên mũ có chữ CKC Chun Kua, 01 áo khoác Jean màu xanh lá cây, 01 quần Jean màu xanh xám. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động SamsungGalaxyA10 màu xanh.
Tại phiên tòa: Quá trình điều tra, truy tố bi cáo Huỳnh Long T không thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo khai nhận: Vào lúc trưa ngày 27/02/2021, bị cáo T điện thoại cho Nguyễn Đức T1, nhờ T1 chở dùm T đi đòi nợ ở nhà bà T2. T điều khiển xe môtô chở T1, khi ngang qua nhà chị T2 thì T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên nói với T1 “ mày về trước đi khi nào tao đòi nợ được thì đón taxi về”. Sau đó, T đi ngược lại và lẻn vào nhà chị C, thấy trong phòng khách có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6plus, màu vàng đồng, ốp lưng màu đà và 81.000đ và lén lút lấy trộm thì bị P phát hiện, hai bên giằng co với nhau thì điện thoại và số tiền rớt xuống đường nên bị một số người xung quanh bắt giữ bị cáo. Giữa T và T1 không có bàn bạc, không hứa hẹn gì với T1, nên T1 không biết việc T lén lút vào nhà bị hại lấy trộm tài sản. Bị cáo thấy hành vi mình sai trái và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng. Đủ cơ sở để kết luận: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/02/2021, tại khu phố T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên thì Huỳnh Long T đi ngang qua nhà chị C, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã có hành lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động và số tiền 81.000đ của bị hại Văn Công P, với tổng giá tị tài sản là 2.871.000đ thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Huỳnh Long T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 22/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Ngày 19/9/2018, bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS; tại bản án số 54/2018/HSST ngày 28/9/2018, bị TAND thành phố Tuy Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Toàn đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”. Tổng hợp hình phạt 02 bản án là 03 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong án ngày 14/01/2021. Bị cáo T chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 05/3/2018 bị công an thành phố T xử phạt hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải coi đó là bài học để nâng cao ý thức thức chấp hành pháp luật nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình xét xử, bị cáo thật thà khai báo, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sớm cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.790.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Cần tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai màu xám đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen trên mũ có chữ CKC Chun Kua, 01 áo khoác Jean màu xanh lá cây, 01 quần Jean màu xanh xám. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động SamsungGalaxyA10 màu xanh.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Đức T1 có quan điều tra đã kết luận không có tài liệu chứng cứ chứng minh Thịnh đồng phạm với Huỳnh Long T, Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Long T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Long T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/02/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo Huỳnh Long T và bị hại Văn Công P
Buộc bị cáo Huỳnh Long T bồi thường cho người bị hại Văn Công P số tiền 2.790.000đ (hai triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng)
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai màu xám đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen trên mũ có chữ CKC Chun Kua, 01 áo khoác Jean màu xanh lá cây, 01 quần Jean màu xanh xám.
Trả lại cho bị cáo Huỳnh Long T 01 điện thoại di động SamsungGalaxyA10 màu xanh.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố T ngày 22/6/2021.
Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Long T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Phú Yên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Tuy Hòa; -VKSND t.Phú Yên
- Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
- Công an TP. Tuy Hòa;
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Bùi Thị Hoa Dung
đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như hồ sơ vụ án. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở xác định: Bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích, nhưng vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/01/2018 tại 247 Lê Duẩn, phường 7, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, bị cáo có hành vi trộm cắp xe mô tô của Nguyễn Thanh Hào trị giá 16.000.000đ. Khoảng 14 giờ ngày 11/01/2018 tại số nhà 431 Trường Chinh, phường 9, thành phố Tuy Hòa, bị cáo Toàn tiếp tục có hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu SamSung galaxyJ7 của chị Nguyễn Thị Chi trị giá 1.700.000đ. Tiếp đó vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 29/01/2018 tại lô 08 khu dân cư Hồ Sơn, phường 5, thành phố Tuy Hòa, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp 01 lồng chim bên trong có 01 con chim chào mào của anh Phạm Phú Yên trị giá 700.000đ.
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại 18.400.000đ.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Long Toàn đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của những người bị hại, không quản lý về tài sản nên đã có hành vi lén lút lấy tài sản. Khi bị phát hiện, bị cáo chống trả để chạy thoát, bị cáo là thanh niên có sức khỏe không chịu làm ăn lương thiện mà sa vào nghiện ma túy rồi lén lút lấy tài sản để bán tiêu xài cá nhân. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, trong thời gian một tháng bị cáo đã thực hiện 03 lần trộm cắp. Đây là những tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 05/3/2018, bị Công an TP.Tuy Hòa xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không coi đó là bài học để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà tiếp tục con đường phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thật thà khai báo, được người bị hại ông Nguyễn Thanh Hào, bà Nguyễn Thị Chi xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sớm cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Phạm Phú Yên đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên HĐXX không xét
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Nguyễn Thị Chi: Bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Chi số tiền 1.700.000đ
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Cần trả lại xe máy hiệu Yamaha, loại Sirius, có số khung RLCS5C6J0GY206846, số máy 5C6J206854, không có biển số cho ông Nguyễn Thanh Hùng.
Lưu hồ sơ : 01 tờ giấy học sinh đề ngày 10/01/2018 ghi nội dung giấy mượn tiền, người mượn là Bùi Tá Minh Nhật, sinh ngày 07/3/1996 thế xe mô tô 78C1-36213; 01 thẻ sinh viên mang tên Bùi Tá Minh Nhật;
Tiêu hủy 01 dao Thái Lan, 01 cây bút lông, 01 áo khoác màu xanh, 01 kiêm tiêm chưa sử dụng, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
Đối với ông Đỗ Ngọc Hớn mua điện thoại di động hiệu SamsungGalaxyJ7 của Huỳnh Long Tòan nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Viện kiểm sát không truy tố là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Long Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Long Toàn 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/3/2018.
Về trách nhiệm dân sự: .
Bị hại Phạm Phú Yên đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì nên HĐXX không xét.
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Nguyễn Thị Chi: Bị cáo Huỳnh Long Toàn bồi thường cho chị Nguyễn Thị Chi số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án, nếu bị cáo Huỳnh Long Toàn chưa thanh toán khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
[2.3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên trả xe máy hiệu Yamaha, loại Sirius, có số khung RLCS5C6J0GY206846, số máy 5C6J206854, xe không có biển số cho ông Nguyễn Thanh Hùng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa ngày 10/7/2018.
Lưu hồ sơ : 01 tờ giấy học sinh đề ngày 10/01/2018 ghi nội dung giấy mượn tiền, người mượn là Bùi Tá Minh Nhật, sinh ngày 07/3/1996 thế xe mô tô 78C1-36213; 01 thẻ sinh viên mang tên Bùi Tá Minh Nhật.
Tiêu hủy 01 dao Thái Lan, 01 cây bút lông, 01 áo khoác màu xanh, 01 kiêm tiêm chưa sử dụng, 01 mũ bảo hiểm màu xanh vì không còn giá trị sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa ngày 21/5/2018.
Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Long Toàn phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND TP. Tuy Hòa; - Chi cục THADS TP. TuyHòa; - Công an TP. Tuy Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoa Dung |