- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần nguyễn thành t - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 59/2019/HSST Ngµy: 31/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H – TỈNH SƠN LA
Với thành phầnHội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tráng A Lứ và ông Lường Văn Nga.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Thị Hằng Giang, Cán bộ Toà án nhân dân huyện VH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Đức – Kiểm sát viên.
Ngµy 31 th¸ng 7 n¨m 2019, t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn VH, xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 65/2019/HSST ngµy 11 th¸ng 7 n¨m 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2019. §èi víi bÞ c¸o:
Trần Nguyễn Thành T. Sinh năm 1993; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không.
Địa chỉ: Xóm T Ph, xã M H, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12. Con «ng: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Trần Thị H. Bị cáo có bố nuôi là Trần Ngọc Th (đã chết) và mẹ nuôi là Trần Thị T. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 23/5/2014 Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình xử phạt 6.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Đã chấp hành xong tiền phạt và án phí.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2019 cho đến nay. Cã mÆt t¹i phiªn toµ.
- Người có QLNVLQ: Bà Trần Thị H, Sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm T Ph, xã M H, huyện M Ch, tỉnh Hòa Bình. Có mÆt t¹i phiªn toµ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 50 ngày 08/4/2019 Tại bản C T, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác Công an huyện VH ra tín hiệu dừng xe, nhưng Trần Nguyễn Thành T vẫn điều khiển xe máy BKS 28M1 – 096.00 tăng tốc chạy về hướng Hòa Bình. Tổ công tác truy đuổi bắt được T, kiểm tra phát hiện bắt quả tang Trần Nguyễn Thành T cất giấu trái phép trong khe chiếc dép T đang sử dụng 01 túi nilon màu xanh, bên trong có: 01 gói nilon màu hồng bên trong có một lớp giấy bạc đựng 02 viên nén màu hồng, bề mặt đều có ký hiệu WY; 02 gói nilon màu hồng bên trong đều đựng chất bột màu trắng; 01 ống nhựa hình trụ tròn bên trong đựng chất bột màu trắng và màu hồng và 02 mảnh giấy bạc. Trần Nguyễn Thành T khai nhận đó là Hồng Phiến và Heroine đã mua về sử dụng. Tổ công tác công an huyện VH đã thu giữ toàn bộ vật chứng, tạm giữ của T 01 chiếc xe máy, 01 điện thoại di động, 01 đôi dép màu nâu và dẫn giải T về cơ quan công an huyện VH để điều tra, xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Nguyễn Thành T khai nhận:
Khoảng 17 giờ 00, ngày 18/4/2019, T được bạn là Vì Văn H (ở cùng xã) gọi điện mời đến nhà ăn cơm. T mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 28M1 – 096.00, của mẹ đẻ là bà Trần Thị H đến gặp H ngoài đường, T nói có việc bận, không ăn cơm được và hỏi vay H 100.000 đồng. Sau đó T điều khiển xe máy đến nhà một người dân tộc Mông tên là T ở bản C T, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tại nhà T, T hỏi mua được 02 viên Hồng phiến được gói bằng nilon màu hồng bên trong có một lớp giấy bạc và 02 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng với giá 300.000 đồng. Sau đó T xin thêm T được một ít Heroine và Hồng phiến đựng trong ống nhựa hình trụ tròn. T lấy ra mỗi loại một ít sử dụng tại nhà T. Số ma túy còn lại, T cho vào ống hàn lại và nhặt 02 mảnh giấy bạc rồi cho chung vào túi nilon màu xanh sau đó cất túi ma túy vào khe phía trên quai dép bên trái đang đi rồi điều khiển xe về nhà. Khi ra đến Quốc Lộ 6, thì bị Tổ công tác Công an huyện VH phát hiện truy đuổi và bắt giữ.
Vì Văn H thừa nhận có cho Trần Nguyễn Thành T vay 100.000 đồng, nhưng không biết T sẽ dùng tiền để mua ma túy. Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý. Sau khi T bị bắt giữ, Vì Văn H không yêu cầu T phải trả lại số tiền trên.
Quá trình điều tra, xác minh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 28M1 – 096.00, do Trần Nguyễn Thành T dùng làm phương tiện phạm tội, thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị H (Bà H mua trả góp qua Công ty tài chính TNHH một thành viên Home Credit Việt Nam vào ngày 18/8/2018 với giá 19.986.000). Bà H đăng ký xe tên T, nhưng vẫn trả góp hàng tháng, hiện còn nợ 1.554.000 đồng. Bà Trần Thị H không biết và không liên quan đến việc Trần Nguyễn Thành T dùng xe máy làm phương tiện phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra, tiến hành cân tịnh tang vật thu của Trần Nguyễn Thành T xác định được:
- Gói chất bột màu trắng thứ nhất có khối lượng 0,09 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T.
- Gói chất bột màu trắng thứ hai có khối lượng 0,12 gam, lấy 0,04 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T2.
- 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,17 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T4.
- Số chất bột màu trắng và màu hồng trong ống nhựa có khối lượng 0,24 gam, lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T6.
Bản Kết luận giám định số 763/KLMT ngày 11/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu T, T2 đều là ma túy; Loại chất Heroine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T4 là ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T6 là ma túy, loại hỗn hợp Heroine và Methamphetamine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ: 0,21 gam, loại Heroine; 0,17 gam, loại Methamphetamine; 0,24 gam, loại hỗn hợp Heroine và Methamphetamine”
Bản cáo trạng số 65/CT – VKS, ngµy 10/7/2019 ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn VH truy tè bÞ c¸o Trần Nguyễn Thành T vÒ téi Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ Cáo trạng, đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Thành T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Trần Nguyễn Thành T từ 24 đến 30 tháng tù.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng điều 47 BLHS 2015 và điều 106 BLTTHS 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01phong bì niêm phong bên trong đựng 0,33 gam Heroine và Methamphetamine; 02 mảnh giấy bạc và vỏ gói niêm phong ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 que thử ma túy đối với Trần Nguyễn Thành T và Vì Văn H.
+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu đen, có số thuê bao xxx.xxx.xxxx; 01 đôi dép màu nâu đã qua sử dụng.
+ Trả lại bà Trần Thị H 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 28M1 – 096.00 màu đen trắng, số khung RLHJA390XHY661568, số máy JA39E0637923 đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do nghiện chất ma túy, ngày 08/4/2019 Trần Nguyễn Thành T đã mượn xe của mẹ đẻ, đến nhà Vì Văn H vay 100.000 đồng, sau đó điều khiển xe máy đến địa phận bản C T, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La, vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông tên là T hỏi mua được 0,21 gam Heroine; 0,17 gam Methamphetamine và 0,24 gam hỗn hợp Heroine và Methamphetamine, với giá 300.000 đồng, mục đích về sử dụng. Trên đường quay về thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy, Căn cứ điều 4, Nghị định số 19/2018/NĐ – CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì: Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ được là 0,21 gam Heroine + 0,17 gam Methamphetamine + 0,24 gam hỗn hợp Heroine và Methamphetamine = 0,62 gam. Tổng khối lượng 02 chất ma túy tương đương với khối lượng Heroine và Methamphetamine được quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 BLHS 2015. HĐXX xét thấy, quá trình điều tra, khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hình sự, do vậy, sẽ bị xử phạt tù nghiêm khắc, cách ly khỏi đời sống để giáo dục, răn đe, và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn. Do vậy, HĐXX xem xét, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về phạt bổ sung (phạt tiền): Bị c¸o nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị, không có khả năng thi hành, do vậy, kh«ng ¸p dông ph¹t bæ sung đối với bị cáo.
Đối với Vì Văn H đã cho Trần Nguyễn Thành T vay tiền nhưng không sử dụng ma túy, không biết và không liên quan đến việc bị cáo dùng tiền vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Vì Văn H là có căn cứ. Chấp nhận việc Vì Văn H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 100.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: 01phong bì niêm phong bên trong đựng 0,33 gam Heroine và Methamphetamine; 02 mảnh giấy bạc và vỏ gói niêm phong ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 que thử ma túy đối với Trần Nguyễn Thành T và Vì Văn H là những vật bị cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu đen, có số thuê bao xxx.xxx.xxxx; 01 đôi dép màu nâu đã qua sử dụng thu của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
+ Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 28M1 – 096.00 màu đen trắng, số khung RLHJA390XHY661568, số máy JA39E0637923 đã qua sử dụng, do Trần Nguyễn Thành T mượn của bà Trần Thị H dùng làm phương tiện phạm tội. Bà Trần Thị H không biết và không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Do vậy, cần tuyên trả lại cho bà Trần Thị H quản lý, sử dụng.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai vào nhà người đàn ông dân tộc Mông, tên là T, ở bản C T, xã L L mua. Cơ quan điều tra xác minh, tại bản C T không có ai tên là T có đặc điểm như bị cáo khai, không có căn cứ xử lý ở vụ án này.
BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thẩm theo luËt ®Þnh.
V× c¸c lÏ trªn:
quyÕt ®Þnh
1. Căn cứ điểm i khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Thành T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Trần Nguyễn Thành T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2019.
Kh«ng ¸p dông ph¹t bæ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01phong bì niêm phong bên trong đựng 0,33 gam Heroine và Methamphetamine; 02 mảnh giấy bạc và vỏ gói niêm phong ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 que thử ma túy đối với Trần Nguyễn Thành T và Vì Văn H.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu đen, có số thuê bao xxx.xxx.xxxx; 01 đôi dép màu nâu đã qua sử dụng.
- Trả lại bà Trần Thị H 01chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 28M1 - 096.00 màu đen trắng, số khung RLHJA390XHY661568, số máy JA39E0637923 đã qua sử dụng.
Toàn bộ theo biên bản giao vật chứng số 85/BBVC ngày 11/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện VH.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
BÞ c¸o, người có QLNVLQ cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy tuyên án ®Ó yªu cÇu xÐt xö phóc thÈm.
tm/héi ®ång xÐt xö N¬i nhËn:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
- TA tØnh.
- VKS.
- Tr¹i t¹m giam.
- THAHS.
- THADS.
- BC.
- Người có QLNVLQ.
- UBND xã.
Nguyễn Đăng Quang
- L u Hå s¬. -L u VP. HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TOẠ HỘI THẨM NHÂN DÂN
Tráng A Lứ
Nguyễn Đăng Quang
Lường Văn Nga
tm/héi ®ång xÐt xö N¬i nhËn:
| -TA tØnh. -VKS. -Tr¹i t¹m giam. -THAHS. -THADS. - BC. - Ng êi bÞ h¹i. - Người có QLNVLQ -L u Hå s¬. -L u VP. | Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đăng Quang |