vanban.org

Bản án 59/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 24/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bi ̣ cáo Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nhan Chí H (tên gọi khác: K) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ) 06 (sáu) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/12/2017, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nhan Chí H (tên gọi khác K) 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bi ̣ cáo Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nhan Chí H (tên gọi khác: K) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2018/HS-ST
Ngày 24-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út

Ông Thạch Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Văn Định – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngộ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:

Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ), sinh năm 1989 tại Bạc Liêu.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không có; Nơi cư trú: số 13, khóm N, phường N, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Đ, sinh năm 1967 và bà Sơn Thị V, sinh năm 1961; có vợ: Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1990; con 01 người sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 30/12/2017, đến ngày 05/01/2018 bị khởi tố bị can và tạm giam đến nay. “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Đ: Bà Đặng Thúy Phượng – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bạc Liêu.

Nhan Chí H (tên gọi khác: K), sinh năm: 1987 tại Bạc Liêu.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: số 294/7, khóm N, phường N, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: chạy xe ôm; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Nhan Văn T, sinh năm 1950 và bà Trương Hồng N, sinh năm 1957; có vợ: Trang Thanh T, sinh năm 1992 (đã ly hôn); con 01 người sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. “có mặt”.

- Bị hại:

+ Chị Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1980. Nơi cư trú: số A, khóm Nhà Mát, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”

+ Chị Huỳnh Thanh T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”

+ Anh Dương Văn C, sinh năm 1987. Nơi cư trú: khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Trần Trúc Q, sinh năm 1994. Nơi cư trú: số A, khóm Đầu Lộ A, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền xài nhanh chóng, Lý Đ nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác để trộm đem bán lấy tiền tiêu xài. Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 12/2017, Đảo đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 19/11/2017, Lý Đ thấy cửa nhà trước của chị Đỗ Thị Thu T, thuộc khóm Nhà Mát, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu khép hờ nên đi vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Sau khi vào nhà, Đ lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại F3 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 để trên giường của chị Trang, rồi đem cất giấu tại căn nhà hoang (gần nhà Đảo). Đến khoảng 01 giờ ngày 20/11/2017, Lý Đ đem điện thoại Oppo F3 bán cho người tên L (chưa rõ nhân thân) với giá 800.000 đồng, số tiền này Đ tiêu xài cá nhân hết, riêng điện thoại di động Samsung Galaxy J5, Đ định mang về sử dụng nhưng đã bị mất. Tài sản bị chiếm đoạt, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 29/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, loại F3, màu gold, có giá còn lại là 6.295.300 đồng và 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung Galaxy J5, màu gold, có giá còn lại là 1.817.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.112.300 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ ngày 14/12/2017, Lý Đảo thấy nhà anh Dương Văn C, thuộc khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu không có hàng rào, chuồng heo và nhà sau liền với nhau nảy sinh ý định vào tìm tài sản lấy trộm. Đ trèo qua chuồng heo rồi đi vào phòng ngủ lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7, màu hồng đang sạc pin. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Đ đem điện thoại lấy trộm được thuê Nhan Chí H chở đi chạy lại chương trình. Sau đó, Đ kêu H chở đến tiệm cầm đồ Nguyễn H, khóm Đầu Lộ, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, của chị Nguyễn Trần Trúc Q cầm điện thoại Samsung Galaxy J7 với giá 1.800.000 đồng, Đ trả tiền công xe ôm cho H 60.000 đồng, còn lại tiêu xài hết, lần này H không biết tài sản Lý Đ đem cầm do trộm mà có.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 29/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu hồng, tỷ lệ còn lại 97%, với giá là: 4.171.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 00 giờ ngày 18/12/2017, Lý Đ thấy cửa sau nhà của chị Huỳnh Thanh T, khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, khép hờ nên đi vào lấy trộm tài sản. Đ thấy chị T đang ngủ nên lấy một máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, màu trắng để trên giường rồi đem đến căn nhà hoang gần nhà cất giấu. Khoảng 13 giờ ngày 22/12/2017, Đ lấy máy tính bảng trộm được tiếp tục thuê Nhan Chí H chở đi chạy lại chương trình rồi đem đi cầm. Trên đường đi, H hỏi “máy tính bảng ở đâu mà đem cầm hoài vậy”, Đ nói “lấy của người ta”, H biết tài sản này do Đ lấy trộm của người khác mà có nên nảy sinh ý định chuộc lại để sử dụng. H tiếp tục hỏi “máy này cầm chuộc hay cầm đứt”, Đ trả lời “cầm sát giá rồi bỏ”, H nói “nếu bỏ để tao chuộc cho con tao dùng”, Đ đồng ý. Khi đến tiệm cầm đồ Nguyễn H, Đ cầm máy tính bảng Samsung Galaxy Tab E cho chị Quỳnh với giá 1.200.000 đồng. Lúc này, Đảo đi ra nghe điện thoại, chị Quỳnh hỏi Hiếu ghi biên nhận cầm đồ tên người nào, do muốn chuộc lại máy tính bảng nên Hiếu nói ghi tên K (tên thường gọi của H), chị Q ghi biên nhận cầm đồ đưa cho H và lấy tiền đưa cho Đ. Sau đó, Đ kêu H chở về nhà và trả tiền công cho H 60.000 đồng, còn lại tiêu xài hết.

Ngày 23/12/2017, H đem biên nhận cầm đồ (máy tính bảng Samsung Galaxy Tab E) đến gặp chị Q chuộc lại máy tính bảng với giá 1.210.000 đồng đem về sử dụng thì bị chị Huỳnh Thanh T phát hiện, trình báo Công an phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu mời H về làm việc đồng thời thu giữ tang vật.

Tại kết luận định giá tài sản, ngày 02/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, màu trắng, tỷ lệ còn lại 85%, trị giá còn lại là: 3.901.500 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Lý Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; bị cáo Nhan Chí H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1, Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Lý Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nhan Chí H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

+ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lý Đ mức án: từ 06 - 09 tháng tù.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 60 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nhan Chí H mức án: từ 04 - 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm.

+ Về tang vật của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41 năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây chĩa dài 92 cm, trong đó phần cán làm bằng cây tre dài 50 cm, phần mũi làm bằng sắt dài 42 cm, đường kính 0,8 cm và 01 cây đèn pin, loại đội đầu, màu xanh, có dây đeo làm bằng thun, màu đen.

+ Án phí: áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các bị cáo phải chịu án phí 200.000 đ, hình sự sơ thẩm.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Lý Đ trình bày: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Lý Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; ngoài ra bị cáo xuất phát từ thành phần lao động nghèo, hiểu biết pháp luật ít nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, luật sư trình bày lời bảo chữa; các bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lý Đ và Nhan Chí H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày rõ lời khai nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong giai đoạn điều tra ; lờ i khai của các bị cáo phù hợp với nhau, đồng thời phù hợp lờ i khai của bị hại Đỗ Thị Thu T, Huỳnh Thanh T, Dương Văn C về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản, cách thức chiếm đoa ̣t tài sản; phù hợp lời khai của chị Nguyễn Trần Trúc Q (là người nhận cầm cố tài sản từ các bị cáo), đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh:

Đối với bị cáo Lý Đ, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2017 đến tháng 12/2017, Lý Đ đã nhiều lần lén lút trộm tài sản của người khác trên địa bàn phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, cụ thể: khoảng 02 giờ ngày 19/11/2017, trộm của chị Đỗ Thị Thu T 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo loại F3 giá trị 6.295.300 đồng và 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung Galaxy J5 giá trị 1.817.000 đồng; Khoảng 00 giờ ngày 14/12/2017, trộm của anh Dương Văn C 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 giá trị 4.171.000 đồng; Khoảng 00 giờ ngày 18/12/2017, trộm của chị Huỳnh Thanh Trúc 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E giá trị 3.901.500 đồng. Các hành vi của Lý Đảo thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian nên tổng giá trị tài sản do Lý Đ trộm cắp là tổng giá trị tài sản của các lần trộm cắp cộng lại. Do đó, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 16.184.800 đồng.

Đối với bị cáo Nhan Chí Hiếu, tuy không hứa hẹn trước nhưng H biết rõ máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, màu trắng do bị cáo Lý Đảo đem đi cầm là tài sản do Lý Đ phạm tội mà có nhưng vì lòng tham vào ngày 23/12/2017 H đem biên nhận cầm đồ đến gặp chị Q chuộc lại máy tính bảng với giá 1.210.000 đồng đem về để sử dụng.

Bị cáo Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị cáo H thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đều vì mục đích vụ lợi; trước, trong và sau khi thực hiện hành vi, các bị cáo Đ và H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Lý Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và hành vi của bị cáo Nhan Chí H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1, Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiê ̣m dân sự: chị Huỳnh Thanh T và anh Dương Văn C đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; chị Đỗ Thị Thu T đã nhận bồi thường số tiền 7.500.000 đồng. Chị Huỳnh Thanh T, anh Dương Văn C, chị Đỗ Thị Thu T và chị Nguyễn Trần T Q không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với bị cáo Lý Đ: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản và mỗi vụ giá trị tài sản đều đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và người bị hại chị Đỗ Thị Thu T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy, thời hạn tạm giam vừa qua đã đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo Lý Đ nên chỉ cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo bằng thời hạn tạm giam là đảm bảo đúng quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

- Đối với bị cáo Nhan Chí Hiếu: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp it nghiêm tro ̣ng ; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng các

́ quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Nhan Chí H có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, bị cáo H có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện cho hưởng án treo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, cải tạo cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 01 cây chĩa dài 92cm; 01 cây đèn pin của bị cáo Đảo dùng vào thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7, màu hồng; 01 máy tính bản hiệu Samsung Galaxy Tab, màu trắng và 01 máy tính bảng hiệu RCA, màu đen, Cơ quan điều tra đã trả cho các bị hại là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Lý Đ và Nhan Chí H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về các nội dung khác:

- Đối với các vụ trộm cắp tài sản vào ngày 04/12/2017 của bà Hứa Việt T và ngày 10/12/2017 của bà Trần Thị L, mà Lý Đ thực hiện có giá trị dưới 2.000.000 đồng, chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt hành chính là phù hợp.

- Đối với vụ trộm 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen mà Lý Đ khai nhận, chưa xác định được bị hại nên giao Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

- Đối với tố giác của bà Hồ Thị R bị mất trộm 01 điện thoại di động hiệu LG, màu hồng, qua điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh Lý Đ lấy trộm nên không đề cập xử lý.

- Đối với chị Nguyễn Trần Trúc Q, chị Lý Thị Mỹ L không biết các tài sản của Lý Đ đưa là do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Ba ̣c Liêu về

tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lý Đ: Như đã phân tích, chấp nhận một phần đề nghị của Luật sư.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Căn cứ khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tuyên bố bi ̣ cáo Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nhan Chí H (tên gọi khác: K) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ) 06 (sáu) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/12/2017, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lý Đ (tên gọi khác: Chúa Đ) đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.

- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nhan Chí H (tên gọi khác K) 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24 tháng 7 năm 2018).

Giao bị cáo Nhan Chí H (tên gọi khác K) cho Ủy ban nhân dân phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nhan Chí H (tên gọi khác K) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài gói niên phong có dấu vân tay Lý Đ và chữ ký của bà Hứa Việt T và điều tra viên Dương Minh Quí cùng dòng chữ: “Một cây chĩa dài 92cm, trong đó phần cán làm bằng cây tre dài 50 cm, phần mũi làm bằng sắt dài 42cm, đường kính 0,8 cm, đã qua sử dụng”.

+ 01 (một) gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài gói niên phong có dấu vân tay Lý Đ và chữ ký của bà Hứa Việt Thùy và điều tra viên Dương Minh Quí cùng dòng chữ: “Một cây đèn pin, loại đội đầu, màu xanh, có dây đeo làm bằng thun, màu đen, đã qua sử dụng”.

Các vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/4/2018.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo (tên gọi khác: Chúa Đ) và Nhan Chí H (tên gọi khác Kiệt), mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo : Án xử công khai, báo cho các bị cáo và người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ