- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thành Tr bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2017/HSST Ngày: 24/11/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Chức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hồng;
2. Ông Hồ Văn Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2017/TLST-HS ngày 04/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2017/QĐXXST-HS ngày 12/10/2017 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2017/HSST-QĐ ngày 26/10/2017 đối với bị cáo:
NGUYỄN THÀNH TR (Tên gọi khác: T Th), sinh ngày 16/8/1986, tại tỉnh Đăk Lăk; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt nam; Con oâng Nguyễn Th đã chết vaø baø Nguyễn Thị Kim M; tieàn aùn, tieàn söï: Khoâng; Ngày 24/7/2017, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 01/11/2017 bị cáo bị b t tạm giam theo Lệnh b t và tạm giam c a Toà án. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm gi Công an thị xã Buôn Hồ; Có mặt.
- Người bị hại: Anh Trần Thanh L, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ dân phố H, phường Th, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk; V ng mặt Có đơn xin xét xử v ng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố về hành vi phạm tội như sau: Do biết tại tiệm rửa xe c a anh Trần Thanh L sinh năm 1982 ở tổ dân phố H, phường Th, thị xã B, tỉnh Đ k L k không có người trông coi nên Nguyễn Thành Tr, nảy sinh ý định trộm c p tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 02 giờ sáng ngày 09/7/2017, Tr mang theo 01 chiếc đèn pin và 01 chiếc cờ lê 8 rồi điều khiển xe mô tô biển số giả 51Y6 - 6004 đến trước tiệm rửa xe c a anh L. Tr lén lút dùng cờ lê 8 mang theo mở các đinh ốc cố định tấm tôn thiếc trên cửa ra vào cửa tiệm rồi đột nhập vào bên trong, sử dụng đèn pin soi tìm tài sản. Tại đây, Tr tìm được 01 cờ lê 13 rồi sử dụng chiếc cờ lê tháo lấy 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực g n trên các dàn máy rửa xe, 01 lồng chim bằng gỗ Mun, bên trong có 01 con chim ch ch chòe và 01 lồng chim bằng Tre bên trong có 01 con chim Chào Mào, 03 chai nhớt động cơ hiệu Castrol. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô chở 02 lồng chim, 03 chai nhớt về nhà cất giấu rồi quay lại chở 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực đến khu vực đèo Hà Lan thuộc TDP 7, phường Bình Tân, thị xã Buôn Hồ cất giấu. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Tr lấy 02 chai nhớt vừa trộm được đổ vào xe mô tô c a mình rồi điều khiển xe đến đèo Hà Lan chở 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực đến Thành phố Buôn Ma Thuột tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến chợ Đạt Lý thuộc xã Hòa Thuận, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đ k L k, Tr bán số tài sản trên cho một người phụ n đi đường không rõ nhân thân lai lịch được 1.200.000đồng Một triệu hai trăm ngàn đồng , số tiền có được Tr đã tiêu xài hết. Riêng 02 lồng chim và chai nhớt hiệu CASTROL, Tr vẫn cất giấu tại nhà ở c a mình.
Vật chứng vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, thu gi
được gồm: 01 xe mô tô biển số 51Y6 - 6004, màu sơn đen, số máy: HC09E5301178, số khung: RLHHC09037Y201142; 01 chiếc cờ lê 8 bằng kim loại màu tr ng; 01 chiếc đèn pin, loại đèn đeo trên đầu, màu vàng xanh nâu; 01 chai nhớt động cơ hiệu CASTROL, loại 01 l t chưa qua sử dụng ; 01 lồng chim bằng gỗ Mun, hình vuông có k ch thước 40x70 cm bên trong có 1 con chim ch ch chòe và 01 lồng chim bằng gỗ tre, hình tròn, đường k nh 50 cm, cao 70 cm bên trong có 01 con chim Chào mào.
Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại: 02 lồng chim, 01 con chim chích chòe, 01 con chim chào mào và 01 chai nhớt hiệu CASTROL cho anh Trần Thanh L là ch sở h u.
Bản kết luận định giá tài sản số 299/HĐĐG ngày 13/7/2017, c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đ k L k kết luận: 01 con chim chào mào đã thuần hóa 03 mùa, màu lông xám có giá trị là: 1.250.000 đồng; 01 con chim chích chòe than, đã thuần hóa 2 mùa, lông màu đen có giá trị là: 500.000 đồng; 01 lồng chim, loại lồng vuông, k ch thước: 45cm x 35cm, được làm bằng gỗ mun, có giá trị là: 700.000 đồng; 01 lồng chim, loại lồng tròn, được làm bằng gỗ tre có giá trị là: 500.000 đồng; 01 máy bơm áp lực, hiệu PROJET, model P22 - 1508BTF Đã qua sử dụng có giá trị là: 1.600.000đ đồng; 01 mô tơ điện, hiệu ASYNMOTOR, model YY90LL - 4, có giá trị là: 1.500.000 đồng; 01 mô tơ điện, hiệu WAITING, 3,5Kw có giá trị là: 1.200.000 đồng; 01 mô tơ điện, hiệu WAITING, 2,5Kw có giá trị là: 800.000 đồng; 03 chai nhớt động cơ, hiệu CASTROL, ACTIV 20W-40, 04T, loại 01 l t, chưa qua sử dụng, có giá trị là 270.000 đồng.
Tổng giá trị c a các tài sản nêu trên là: 8.320.000 đồng (Tám triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố là đúng. Người bị hại công nhận tài sản bị mất như trình bày c a bị cáo. Bị hại thừa nhận đã nhận lại 02 lồng chim, 01 con chim chích chòe, 01 con chim chào mào và 01 chai nhớt hiệu CASTROL; đồng thời yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 5.280.000đồng giá trị 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực không thu hồi được và 02 chai nhớt bị cáo đã sử dụng.
Taïi baûn caùo traïng soá 55/KSÑT-HS ngaøy 03/10/2017 cuûa Vieän kieåm saùt nhaân daân thò xaõ Buoân Hoà ñaõ truy toá bò caùo Nguyễn Thành Tr veà toäi “Trộm cắp tài sản” theo khoaûn 1 Ñieàu 138 Bộ luật hình sự.
Taïi phieân toøa, ñaïi dieän Viện kiểm sát nhân dân thò xaõ Buoân Hoà phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và kh ng định cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào t nh chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân c a bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử aùp duïng khoản 1 Điều 138, điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xöû phaït bò caùo từ 09 (Ch n) đến 12 Mười hai tháng tù; Về biện pháp tư pháp: Như đề nghị tại quyết định truy tố c a cáo trạng.
Bị cáo nhất tr với bản luận tội c a đại diện viện kiểm sát và không có tranh luận. Tại phiên toà, bị cáo nói lời nói sau cùng: Nhận thức được hành vi c a mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt để sớm đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TO ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp đúng quy định c a pháp luật.
[2] Về hành vi c a bị cáo xét thấy: Do nghiện ma tuý và muốn có tiền để mua ma tuý sử dụng c ng như để tiêu xài, đồng thời với ý thức coi thường pháp luật c a Nhà nước và động cơ tư lợi cá nhân, nên khoảng 02 giờ ngày 09/7/2017, tại tiệm rửa xe c a anh Trần Thanh L ở TDP H, phường Th, thị xã B, bị cáo Nguyễn Thành Tr đã có hành vi lén lút, b mật chiếm đoạt c a anh Trần Thành L 01 con chim chào mào; 01 con chim ch ch chòe than; 01 lồng chim bằng gỗ mun; 01 lồng chim bằng gỗ tre; 01 máy bơm áp lực; 01 mô tơ điện, hiệu ASYNMOTOR; 01 mô tơ điện, hiệu WAITING, 3,5Kw; 01 mô tơ điện, hiệu WAITING, 2,5Kw; 03 chai nhớt động cơ, hiệu CASTROL chưa qua sử dụng. Tổng giá trị c a các tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 8.320.000 đồng (Tám triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng).
Với hành vi c a bị cáo đã phaïm vaøo toäi “Trộm c p tài sản” toäi phaïm vaø hình phaït ñöôïc quy ñònh taïi khoản 1 Ñieàu 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người nào trộm cắp tài của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Xét t nh chất hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở h u tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, nhân thân bị cáo là người nghiện ma tuý đang điều trị cai nghiện tại cộng đồng, bản thân hay trộm c p vặt nhiều lần được ch nh quyền nh c nhở, trong thời gian được tại ngoại bị cáo không chấp hành triệu tập c a Toà án gây khó khăn cho việc xét xử thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải. Song trong quaù trình ñieàu tra cuõng nhö taïi phieân toaø bò caùo ñaõ thaønh khaån khai baùo veà haønh vi phaïm toäi cuûa mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc truờng hợp t nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt không lớn đã được thu hồi một phần trả lại cho người bị hại. Đây laø các tình tieát giaûm nheï ñöôïc quy ñònh taïi ñieåm g, h, p khoaûn 1 Ñieàu 46 Bộ luật Hình sự cần áp dụng ñeå giaûm nheï moät phaàn hình phaït cho bò caùo nhaèm theå hieän chính saùch khoan hoàng cuûa phaùp luaät ñoái vôùi ngöôøi phaïm toäi. Nên cần xem xét t nh chất hành vi hậu quả xảy ra nhân thân và các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự để lên một mức án phù hợp, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian môùi ñaûm baûo tính giaùo duïc, caûi taïo rieâng, đấu tranh phoøng ngöøa chung trong xaõ hoäi, c ng như để bị cáo có thời gian cai nghiện.
[3] Đối với 03 chiếc mô tơ điện và máy bơm áp lực, quá trình điều tra bị cáo khai báo đã bán cho một người phụ n đi đường (không rõ nhân thân lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh truy thu là có căn cứ.
[4] Đối với chiếc xe mô tô biển số 51 Y6 – 6004 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, bị cáo khai báo đã mua c a một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch tại Hoa viên Tp. Buôn Ma Thuột vào gi a năm 2016 với giá 1.200.000đ Một triệu hai trăm nghìn đồng nhưng xe không có giấy tờ và biển kiểm soát. Sau khi mua xe, bị cáo nhặt được biển số 51Y 6 - 6004 đã hư hỏng nên g n vào xe để sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tra cứu số máy, số khung c a xe mô tô trên xác định ch sở h u là ông Nguyễn Văn Ch sinh năm 1947, địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện K). Tiến hành xác minh tại Thôn X, xã E, huyện K trước đây thuộc xã P, huyện K nhưng được chính quyền địa phương cho biết từ trước đến nay không có ai tên Nguyễn Văn Ch sinh sống và cư trú tại địa phương. Cơ quan CSĐT đã thông báo tìm ch sở h u nhưng đến nay vẫn chưa xác định được ch sở h u hợp pháp; đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 5.280.000đồng là giá trị 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực bị cáo đã bán cho người khác lấy tiền tiêu xài cá nhân, hiện nay không thu hồi được và 02 chai nhớt bị cáo đã sử dụng, xét yêu cầu c a bị hại là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[5] Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu h y: Chiếc cờ lê 8 và chiếc đèn pin (là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng .
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô, g n biển số 51 Y6 – 6004 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại 02 lồng chim, 01 con chim chích chòe, 01 con chim chào mào và 01 chai nhớt hiệu CASTROL nêu trên cho cho anh Trần Thanh L là ch sở h u.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thành Tr phải bồi thường cho anh Trần Thanh L số tiền 5.280.000đ (Năm triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) là giá trị 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực không thu hồi được và 02 chai nhớt bị cáo đã sử dụng.
[7] Veà aùn phí: Bò caùo Tr phaûi chòu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) aùn phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án ph dân sự sơ thẩm theo quy ñònh cuûa phaùp luaät.
Vì caùc leõ treân;
QUYEÁT ÑÒNH:
Tuyeân boá bò caùo NGUYỄN TH NH TR (Tên gọi khác: T Th) phaïm toäi "Trộm cắp tài sản".
-Căn cứ vào Khoản 1 Điều 138, ñieåm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án ph , lệ ph Tòa án.
-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Tr 01 Một năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày b t tạm giam ngày 01/11/2017.
Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu h y: Chiếc cờ lê 8 và chiếc đèn pin (là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng .
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô, g n biển số 51 Y6 – 6004 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại 02 lồng chim, 01 con chim chích chòe, 01 con chim chào mào và 01 chai nhớt hiệu CASTROL nêu trên cho cho anh Trần Thanh L là ch sở h u.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thành Tr phải bồi thường cho anh Trần Thanh L số tiền 5.280.000đồng (Năm triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) giá trị 03 chiếc mô tơ điện, 01 máy bơm áp lực không thu hồi được và 02 chai nhớt bị cáo đã sử dụng.
Veà aùn phí: Bò caùo Tr phaûi chòu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) aùn phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng án ph dân sự sơ thẩm.
Báo cho bò caùo, các đương sự coù quyeàn khaùng caùo aùn sô thaåm trong thôøi haïn 15 ngaøy troøn keå töø ngaøy tuyeân aùn sô thaåm, các đương sự v ng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.
Nôi nhaän:
| - TAND tænh Ñaék Laék; - Sôû Tö phaùp Đaêk Laêk; - VKSND Tx. Buoân Hoà; - CA Tx. Buoân Hoà; - THA daân söï Tx.Buôn Hồ; - Bị cáo, các ñöông sö;ï - Löu hoà sơ, V.phòng. | TM.HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM THAÅM PHAÙN - CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA HOAØNG MINH CHÖÙC |