- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tiến Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Võ Tiến Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự và xử phạt; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 582/2017/HSPT Ngày: 14/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Hà;
Ông Đặng Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 548/HSPT ngày 10/10/2017 đối với bị cáo Võ Tiến Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 94/2017/HSST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo :
Võ Tiến Đức, giới tính: Nam; sinh ngày 27/4/1972, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 417 Lương Định Của, phường A, Quận H, Thành phố H; Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tôc: Kinh; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Võ Văn A và bà Nguyễn Thị T; Tiền sự: không; Tiền án: không; Nhân thân: Ngày 28/11/1997, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố H xử phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm”, ngày 13/6/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “ trộm cắp tài sản ” (cả hai bản án đã xóa án tích); Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2017 - có mặt.
NHẬN THẤY
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ sáng ngày 25/02/2017, Võ Tiến Đ đi bộ tìm tài sản để chiếm đoạt. Khi đi ngang qua nhà của chị Nguyễn Mộng Cẩm T số 233 đường Đỗ Xuân Hợp, tổ 1, khu phố 4, phường B, Quận C, Thành phố H phát hiện cửa nhà không khóa, bên trong có xe Honda biển số 59X1-742.46 có sẵn chìa khoa, không người trông coi, Đức lẻn vào nhà đẩy xe ra ngoài sân thì bị bà Dương Thị N (mẹ chị T) phát hiện. Thấy vậy, Đức bỏ xe lại rồi chạy bộ tẩu thoát. Bà Nở tri hô và cùng một số người đuổi theo bắt giữ Đức giao cho Công an Phường B, Quận C xử lý. Kết luận định giá số 49-2017/KL-ĐGTS ngày 10/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản – UBND Quận 9 xác định: trị giá còn lại của chiếc xe Honda biển số 59X1-742.46 có trị giá 32.400.000 đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 94/2017/HSST ngày 25/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định: 1. Tuyên bố bị cáo Võ Tiến Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản ” Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Võ Tiến Đ02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2017. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 28/8/2017 bị cáo Võ Tiến Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Võ Tiến Đ khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm xét thấy, bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Võ Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức án Tòa cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Võ Tiến Đ là tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, vì vậy đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Vào lúc 06 giờ sáng ngày 25/02/2017, Võ Tiến Đ lẻn vào nhà số 233 đường Đỗ Xuân Hợp, tổ 1, khu phố 4, phường B, Quận C, Thành phố H lấy xe Honda biển số 59X1-742.46 của chị Nguyễn Mộng Cẩm T đẩy ra ngoài sân thì bị bà Dương Thị N phát hiện tri hô và cùng một số người đuổi theo bắt giữ được Võ Tiến Đ giao cho Công an phường B, Quận C xử lý. Kết quả định giá xe Honda biển số 59X1-742.46 có trị giá 32.400.000 đồng.
Với hành vi đó của bị cáo và hậu quả xảy ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Võ Tiến Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Võ Tiến Đ làm đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Võ Tiến Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản là xe gắn máy có trị giá lớn, ngoài ra bị cáo đã từng bị xử phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm” vào năm 1997 và 01 năm 03 tháng tù về tội “ trộm cắp tài sản ” vào năm 2008, tuy các bản án đã được xóa án tích nhưng qua đó thể hiện ý thức của bị cáo xem thường kỹ cương và sự trừng phạt của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội chưa gây thiệt hại; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cãi theo qui định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ, động cơ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ mới. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tiến Đức, giữ nguyên bản án sơ thẩm; phạt bị cáo Võ Tiến Đ 02 (hai) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2017.
Bị cáo Võ Tiến Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TANDTC; (1) -TAND Cấp cao tại TP .HCM; (1) - VKSNDTC TP .HCM; (3) - VKSND Quận 9; (1) - P. PC27 – CATP; (2) - Bị cáo; đương sự (4) - THA Quận 9; (1) - TAND Quận 9; (1) - Công an Quận 9; (1) - UBND nơi BC cư trú; (1) - Sở tư pháp; (1) - Lưu,Tòa hình sự, hồ sơ (22).(5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Trực |