- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đang Quang K- Tàng trữ, tổ chức trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -––––––––––––––– Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày 26-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu
Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Q. Tòa án nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Quang K, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2000 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn B, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng N và bà Bùi Thị M (chết); vợ là Phạm Thị Hiền V, có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q, có mặt tại điểm cầu thành phần.
Tại điểm cầu trung tâm:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Anh T, sinh ngày: 07/5/2007, nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Anh Huỳnh Công N1, sinh năm 1982, nơi cư trú: Thôn Đ, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Chị Trình Thị Quỳnh N2, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn Đ, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Ngọc Thanh T1, sinh năm 2006, nơi cư trú: Thôn Đ, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 02/2025, thông qua bạn bè ngoài xã hội giới thiệu, Đặng Quang K mua 01 (một) viên ma túy “kẹo” (tức là ma túy loại MDMA) với số tiền 350.000 đồng từ một người nam giới tên T2 (không xác định được nhân thân, lai lịch) tại một quán nhậu trên địa bàn thành phố Q (cũ) không rõ địa điểm cụ thể với mục đích để sử dụng. Đến ngày 21/3/2025, do có quen biết với Trần Anh T đi ra đảo L chơi nên Đặng Quang K có rủ T đi chơi và ăn nhậu. Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 21/3/2025, sau khi K và T đi chơi cùng nhau thì K có rủ T đến nhà nghỉ - thuộc thôn Đ, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi để hát karaoke.
Khi đến nhà nghỉ - thì K vào thuê phòng hát Karaoke và yêu cầu chủ quán gọi hai nhân viên nữ của quán vào phục vụ và cùng hát karaoke với K, T tại phòng P.vip 6. Quá trình hát karaoke, đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/3/2025, K lấy 01 (một) viên ma túy kẹo mà K mua trước đó cất giấu trong túi quần của K ra và bẻ thành hai phần. Kế cất giấu một phần hai viên ma túy vào trong gói thuốc lá của K rồi để trên bàn (1/2 viên này K cất giấu lại để sử dụng sau), một phần hai viên ma túy còn lại thì Kế tiếp T3 bẻ thành hai phần (tức mỗi phần là ¼ viên): Kế sử dụng ¼ (một phần tư) viên ma túy và đưa ¼ (một phần tư) viên ma túy còn lại vào tay T và T lấy ma túy mà K đưa uống cùng với nước ngọt. Sau khi T sử dụng xong, T và Kế tiếp tục hát karaoke và có hai nhân viên nữ mà K yêu cầu là Nguyễn Ngọc Thanh T1 và Trình Thị Quỳnh N2 vào. Đến khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, K và T nghỉ hát và K cất giấu một phần hai viên ma túy còn lại vào túi quần của K và thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ - (Phòng ngủ kề bên Karaoke S). Đặng Quang K thuê phòng 103 và Trần Anh T thuê phòng 205 để ngủ. Khoảng 30 phút sau, Đặng Quang K từ phòng 103 của mình đến phòng 205 của T để mượn dây sạc điện thoại và ngồi nói chuyện với T một lát thì T đi ngủ. Lúc này, K lấy gói thuốc ra và để một phần hai viên ma túy còn lại mà K cất giấu tại phòng P.vip 6 trước đó để trên bàn trang điểm với mục đích để sau sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; tiến hành tạm giữ: 01 (một) viên nén màu xanh đã bị bể, không rõ hình dạng (K khai là ma túy loại thuốc lắc); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax của Đặng Quang K đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro của Trần Anh T đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 308/KL-KTHS, ngày 27/03/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận:
- 01 (một) viên nén màu xanh đã bị bể gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; khối lượng mẫu là 0,25 gam (Các mẫu ma túy đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Trình Thị Quỳnh N2 gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA và Ketamine.
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Đặng Quang K gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA và Ketamine.
- Mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Anh T gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại: MDMA và Ketamine.
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSKV1 ngày 28-8-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đặng Quang K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47, Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Đặng Quang K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đặng Quang K từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo K phải chấp hành từ 8 năm đến 9 năm tù. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Quang K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/3/2025, Đặng Quang K và Trần Anh T trong khi đang hát karaoke tại nhà nghỉ - thuộc thôn Đ, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi thì bị cáo Đặng Quang K đã cung cấp ¼ viên ma túy mà bị cáo đã mua trước đó (của một người tên T2 không rõ nhân thân lai lịch) vào tay T và T lấy ma túy mà K đưa uống cùng với nước ngọt, tại thời điểm Trần Anh T sử dụng ma túy, T là người chưa đủ 18 tuổi (chỉ 17 tuổi 10 tháng 14 ngày). Kết quả xét nghiệm Đặng Quang K và Trần Anh T đều dương tính với ma túy. Do đó, hành vi của Đặng Quang K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Sau khi tổ chức sử dụng ½ viên ma túy, ½ viên ma túy còn lại bị cáo K đã giấu trong gói thuốc để trên bàn trang điểm tại phòng số 205 nhà nghỉ - thuộc thôn Đ, đặc khu L, tỉnh Quảng Ngãi mục đích để sau sử dụng thì bị bắt quả tang, với khối lượng 0,25gam ma túy loại MDMA. Do đó, hành vi của Đặng Quang K đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Với nhận định tại mục [3.1] và [3.2], Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đặng Quang K với hai tội danh như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết tác hại của chất ma túy đối với cộng đồng, xã hội, nhưng để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy từ một người không rõ nhân thân, lai lịch cất giấu để sử dụng và cung cấp ma túy cho Trần Anh T là người chưa đủ 18 tuổi sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước và là nguyên nhân để gây ra nhiều tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối tượng có liên quan:
- Đối với người tên T2 là người bán ma túy cho bị cáo Đặng Quang K: Bị cáo K không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ và không biết số điện thoại người này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.
- Đối với Trần Anh T: Vào ngày 22/3/2025 tại phòng hát karaoke nhà nghỉ -, bị cáo K đưa ma túy cho T sử dụng, ngoài ra T không biết số ma túy trên là ở đâu mà có và T cũng không chuẩn bị địa điểm và không có tham gia góp tiền để mua ma túy với K. Do đó, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T không đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Cơ quan Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trần Anh T với hình thức phạt tiền là 750.000 đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tệ nạn xã hội.
- Đối với Trình Thị Quỳnh N2 và Nguyễn Thị Thanh T4: Không tham gia sử dụng ma túy cùng với Đặng Quang K và Trần Anh T vào ngày 22/3/2025 tại nhà nghỉ -. Do đó, hành vi của N2 và T4 không có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, trước đó Trình Thị Quỳnh N2 có sử dụng ma túy do một người bạn (không xác định được nhân thân, lai lịch và địa điểm) đưa nên Cơ quan Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trình Thị Quỳnh N2 với hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tệ nạn xã hội.
- Đối với ông Huỳnh Công N1- là quản lý cơ sở kinh doanh nhà nghỉ - karaoke Song B: Ông N1 không biết bị cáo Đặng Quang K mang theo ma túy và đến thuê phòng P.vip 6 để hát karaoke và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên hành vi của Huỳnh Công N1 không có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS3 24086502 được dán kín, trên miệng túi niêm phong có đóng dấu tròn của Đồn Công an L, Công an tỉnh Q và chữ ký họ tên của Trần Minh T5, Đặng Quang K, Trần Anh T, Phạm S, Nguyễn Thành C. Bên trong túi niêm phong chứa 01 (một) viên nén màu xanh không rõ hình dạng.
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS2 23021570 được dán kín, trên miệng túi niêm phong có đóng dấu tròn của Đồn Công an L, Công an tỉnh Q và chữ ký họ tên của Trần Minh T5, Trình Thị Quỳnh N2, Phạm S, Nguyễn Thành C. Bên trong túi niêm phong chứa 01 (một) chai nhựa trong suốt loại nước suối Q (500ml) có nắp đậy màu trắng, bên trong chai nước tiểu ghi thu của Trình Thị Quỳnh N2.
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS2 23021568 được dán kín, trên miệng túi niêm phong có đóng dấu tròn của Đồn Công an L, Công an tỉnh Q và chữ ký họ tên của Trần Minh T5, Đặng Quang K, Phạm S, Nguyễn Thành C. Bên trong túi niêm phong chứa 01 (một) chai nhựa trong suốt loại nước suối Q (500ml) có nắp đậy màu trắng, bên trong chai nước tiểu ghi thu của Đặng Quang K.
- 01 (một) túi niêm phong mã số PS2 23021569 được dán kín, trên miệng túi niêm phong có đóng dấu tròn của Đồn Công an L, Công an tỉnh Q và chữ ký họ tên của Trần Minh T5, Trần Anh T, Phạm S, Nguyễn Thành C. Bên trong túi niêm phong chứa 01 (một) chai nhựa trong suốt loại nước suối Q (500ml) có nắp đậy màu trắng, bên trong chai nước tiểu ghi thu của Trần Anh T.
Các mẫu giám định nói trên đã sử dụng hết trong quá trình giám định
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, số IMEI 357588203200004, bên trong gắn 01 thẻ sim có dãy số 898402000 116047500628 của Trần Anh T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Trần Anh T.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, số IMEI 35800 1684934132, bên trong điện thoại không gắn thẻ sim của Đặng Quang K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đặng Quang K.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
Điều 106, 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đặng Quang K phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
1. Bị cáo Đặng Quang K 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai tội là 08 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho Trần Anh T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, số IMEI 357588203200004, bên trong gắn 01 thẻ sim có dãy số 898402000 116047500628, mẫu vật được niêm phong dán kín trong túi niêm phong có mã số PS3 24256038, bên ngoài có chữ ký, ghi rõ họ tên của các bên tham gia niêm phong và đóng dấu mộc đỏ của phòng K1 Công an tỉnh Q.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Quang K 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, số IMEI 358001684934133, bên trong điện thoại không gắn thẻ sim, mẫu vật được niêm phong dán kín bên trong túi niêm phong có mã số PS3 24256033, bên ngoài có chữ ký ghi rõ họ tên của các bên tham gia niêm phong và đóng dấu mộc đỏ của phòng K1 Công an tỉnh Q.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày lập ngày 25/9/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Quảng Ngãi).
3. Về án phí: Bị cáo Đặng Quang K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒN G XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 1- Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 1- Quảng Ngãi;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Quảng Ngãi;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng HSNV CA tỉnh Quảng Ngãi;
- Trại tạm giam số 1, CA tỉnh Quảng Ngãi;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
Nguyễn Thị Thanh Như THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phùng Xuân Thu Nguyễn Thị B1 Nguyễn Thị Thanh Như THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phùng Xuân Thu Nguyễn Thị Bình Nguyễn Thị Thanh N3 Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒN G XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND Tp. Quảng Ngãi;
- Chi cục THADS Tp. Quảng Ngãi;
- Cơ quan CSĐT CATP Quảng Ngãi;
- Cơ quan THAHS CATP Quảng Ngãi;
- Phòng NVLT CATP Quảng Ngãi;
- Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ngãi;
- Bị cáo;
Nguyễn Thị Thanh Như
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND Tp. Quảng Ngãi; - Chi cục THADS Tp. Quảng Ngãi; - Cơ quan CSĐT CATP Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS CATP Quảng Ngãi; - Phòng NVLT CATP Quảng Ngãi; - Nhà tạm giữ CATP Quảng Ngãi; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒN G XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Như |