vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Phạm Huy H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án dân sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Huy H phạm tội Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phạm Huy H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN L
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày 31-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN L THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Hà Thị Nga

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Toà án nhân dân quận L, thành phố H

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận L tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận L, thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Huy H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1994 tại H; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C , xã T , huyện A , thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Vũ Thị Th ; có vợ là Nguyễn Thị Thu N , sinh năm 1995; chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 03/01/2023, tạm giam ngày 11/01/2023, thay đổi biện pháp Bảo lĩnh ngày 11/4/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02/01/2023 tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an quận L, thành phố H làm nhiệm vụ trên khu vực đường B thì P hiện Phạm Huy H dừng đỗ xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-097.85 tại lòng đường sát vỉa hè đối diện bến xe N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Tổ công tác thu giữ trên thùng xe tải của H 01 bao tải màu xanh đựng 06 cuộn giấy nilon màu trắng bọc 367 vật thể hình trụ tròn bên ngoài cuộn giấy màu đỏ nghi là pháo nổ, ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S9+. Tổ công tác đưa H cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H: các vật thể hình trụ tròn vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn một đoạn dây, được liên kết với nhau thành 06 tràng và cuộn lại thành 06 khối gửi giám định đều là Pháo nổ, khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp; Tổng khối lượng: 10,30 kg.

Tại cơ quan điều tra Phạm Huy H khai nhận: Khoảng ngày 27 và 28/12/2022 một nam giới tên là P (không biết rõ lai lịch địa chỉ) gọi điện đến từ số điện thoại 0942654407 hỏi mua 06 m pháo nổ, H đồng ý, nói giá 750.000 đồng/1m và yêu cầu phải đặt cọc trước 500.000 đồng, chuyển vào tài khoản ngân hàng của H. Ngày 01/01/2023 P gọi điện báo cho H đã chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản của H. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/01/2023, H liên lạc với T (không rõ lai lịch địa chỉ) qua Zalo hỏi mua 06 m pháo nổ với giá 700.000 đồng/1m. T hẹn H giao pháo ở cổng trường cấp 3 A . H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15C - 09785 một mình đi đến gặp T. T lấy từ trên xe máy xuống 01 bao dứa màu xanh để lên thùng xe của H, H không mở ra xem nhưng biết bên trong là 06 m pháo nổ đặt mua của T. H bảo T quay về gặp nhau sẽ thanh toán sau. Sau đó H gọi điện cho P hẹn nhau ở chân cầu B đối diện bến xe N để giao pháo. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày H đến điểm hẹn chờ gặp P thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang như trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của H thấy có lưu số điện thoại của P là “P pháo”, và có nhiều cuộc gọi đi đến giữa H và “P pháo” vào các ngày từ 27/12/2022 đến 02/01/2023; tại ứng dụng Zalo có tin nhắn giao dịch mua bán pháo giữa H tên tài khoản là “H Lão Tà” với T tên tài khoản là “H Khánh”. Cơ quan Công an đã có công văn gửi Công ty cổ phần VNG đề nghị cung cấp thông tin cá nhân, số điện thoại của tài khoản Zalo “H Khánh” nhưng chưa có kết quả. Tiến hành thu giữ điện tín đối với số điện thoại 0942654407, kết quả chủ thuê bao là Đinh Thị Hải A, số căn cước công dân 019183050205, địa chỉ: xã N, huyện V, tỉnh T. Xác minh tại Công an xã N cho biết: qua tra cứu trên hệ thống dữ liệu dân cư của tỉnh Thái Nguyên xác định không có số căn cước 019183050205 nên không có căn cứ để xác định lai lịch người có tên Đinh Thị Hải A.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng của Phạm Huy H thấy ngày 01/01/2023 có hai giao dịch chuyển khoản tới tài khoản của H, cụ thể: lúc 19 giờ 36 phút 23 giây số tiền 300.000 đồng từ tài khoản 27086940001 và lúc 19 giờ 56 phút 52 giây số tiền 200.000 đồng từ tài khoản 1017021989999. H thừa nhận đây là hai tài khoản P chuyển tiền đặt cọc mua pháo gửi tới H.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành xác minh chủ hai tài khoản ngân hàng trên là chị Phạm Thị H (sinh năm 1989, trú tại T, M, huyện K, thành phố H) và chị Nguyễn Thị Q (sinh năm 1990, trú tại N, huyện K, thành phố H) Chị H và chị Q thừa nhận có thực hiện việc chuyển tiền trên nhưng là làm theo yêu cầu của khách hàng, vì các chị làm nghề dịch vụ chuyển tiền, hiện không nhớ người khách hàng này là ai.

Về vật chứng: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận L: số pháo thu giữ còn lại sau khi giám định là 8,56kg được cho vào 01 hộp giấy niêm phong, dấu niêm phong số 25CN/PC09; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S9+, số IMEI: 354630091115598.

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 15C - 097.85 thu giữ của Phạm Huy H, xác minh chủ đăng ký xe là ông Trần Thanh T , sinh năm 1982, trú tại 14 Trần Thành N, quận K, thành phố H. Ông T đã ủy quyền giao xe cho ông Vũ Đức Th (sinh năm 1978, trú tại: xã Q , huyện A, thành phố H) quản lý sử dụng từ tháng 9/2020. Ổng Th dùng chiếc xe trên để cùng kinh doanh với bà Vũ Thị Th (sinh năm 1975, trú tại: xã Q, huyện A, thành phố H) là mẹ đẻ của H. Ngày 02/01/2023 H nói với bà Th mượn xe ô tô để đi có việc, bà không biết H mang đi buôn bán pháo nổ. Xác định xe trên thuộc quyền quản lý của ông Vũ Đức Th nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại ông Th.

Bản cáo trạng 65/CT- VKSLC ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố Phạm Huy H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Huy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận L, thành phố H đã truy tố. Bị cáo H xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Huy H về tội “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 18 – 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo về địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy số pháo thu giữ còn lại sau giám định là 8,56kg đã được niêm phong lại trong hộp giấy theo niêm phong số 25CN/PC09 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H. Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy đã qua sử dụng ; Về án phí: Bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận L và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và Kết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 03/01/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét đủ căn cứ kết luận: Ngày 02/1/2023, bị cáo Phạm Huy H bị bắt quả tang khi đang vận chuyển pháo nổ nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Số pháo bị cáo bị thu giữ có khối lượng là 10,3 kg. Đây là mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh do đó, bị cáo đã phạm tội Buôn bán hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự, như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố H đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong vụ án này, bị cáo H khai số pháo trên mua của một người nam giới tên T với mục đích bán lại cho người nam giới tên P. Quá trình điều tra chưa xác định được rõ lai lịch của P và T. Cơ quan điều tra đã tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng P và T để tiếp tục điều tra, xác minh.

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của Nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, là nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an. Bị cáo nhận thức được tác hại do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì lợi ích của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, gia đình bị cáo có ông bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo phạm tội lần đầu. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo là người luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hành đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy nhân thân của bị cáo không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử thấy xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, nên có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về Xử lý vật chứng: Theo Biên bản giao nhận vật chứng của vụ án ngày 20/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận L gồm:

+ 01 hộp giấy theo niêm phong số 25CN/PC09 xác định đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy S9+, số IMEI: 354630091115598 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, xác định đây là phương tiện của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tịch thu của bị cáo sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Phạm Huy H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Huy H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Huy H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Huy H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự hủy bỏ biện pháp Bảo lĩnh đối với bị cáo.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy số pháo thu giữ còn lại sau giám định là 8,56kg đã được niêm phong lại trong hộp giấy theo niêm phong số 25CN/PC09 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H.

- Tịch thu của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy đã qua sử dụng để sung vào ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 4 năm 2023 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận L, thành phố H)

Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phạm Huy H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Huy H có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ