- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Thị H Đ190 - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Thị H. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2021/HS-PT Ngày: 30-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2021/TLPT-HS, ngày 25/5/2021 đối với bị cáo Triệu Thị H; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HS-ST, ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk RLấp, tỉnh Đăk Nông. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 71/2021/QĐXXPT-HS, ngày 02/7/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
Bị cáo có kháng cáo: Triệu Thị H, sinh năm 1974, tại tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Làm nông; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn V và bà Triệu Thị D (đều đã chết); có chồng là Vương Văn L (sinh năm 1974) và 04 con (con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2002). Bị bắt tạm giữ từ ngày 25-01-2021đến ngày 03-02-2021 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vương Văn L, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào gần dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, Triệu Thị H biết có một số người có nhu cầu sử dụng pháo nên nảy sinh ý định mua pháo nổ và pháo hoa nổ về bán để kiếm lời. Cùng thời gian này có một người tên C (không xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà H hỏi mua pháo nổ và pháo hoa nổ cho một số người bạn của C. Do không có sẵn pháo trong nhà nên H hẹn với C đến ngày 24-01-2021 nếu mua được pháo sẽ báo cho C biết. Sáng ngày 24-01-2021, H điều khiển xe môtô biển kiểm soát 93H1- 034.79 của H đi đến xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước để dự đám cưới, đồng thời tìm mua pháo. Sau khi dự đám cưới xong, H đến đội A, xã P, huyện B gặp người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua 06 bịch pháo nổ với giá 300.000 đồng/bịch và 06 hộp pháo hoa nổ với giá 600.000 đồng/hộp. Sau đó H chở số pháo trên về nhà cất giấu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày có 01 người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch là người được C giới thiệu mua pháo) gọi điện thoại cho H hỏi mua pháo và thỏa thuận mua bán với giá 500.000 đồng/gói pháo nổ, 800.000 đồng/ hộp pháo hoa nổ, rồi hẹn giao pháo tại gần cổng trường tiểu học L ở thôn A, xã Đ, huyện Đ. Sau đó H dùng xe môtô biển kiểm soát 93H1-034.79 chở theo 02 bịch pháo nổ và 02 hộp pháo hoa nổ để bán cho người đàn ông trên thì bị Công an huyện Đắk R’Lấp phối hợp cùng Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang. H bị thu giữ 02 gói nilon trong suốt, bên trong mỗi gói có chứa các sản phẩm có dạng hình cầu bằng giấy có gắn ngòi nổ (nghi là pháo nổ) và 02 sản phẩm dạng hộp bên trong có nhiều ống giấy hình trụ tròn được liên kết cố định với nhau (nghi là pháo hoa nổ). Sau đó H tự nguyện giao nộp thêm 04 gói sản phẩm có hình dạng nghi là pháo nổ và 04 hộp có hình dạng nghi là pháo hoa nổ, chiếc xe môtô biển kiểm soát 93H1- 034.79 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 003773, mang tên Triệu Thị H.
Tại bản kết luận giám định số: 835/KLMT - C09B ngày 26/01/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 06 túi nylon chứa các vật hình cầu (dạng quả bóng), vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,7cm; một đầu gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định đều là pháo nổ; khi đốt phát ra tiếng nổ lớn; tổng khối lượng là 2,1kg. 06 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17 x 17 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc; bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3 cm gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ); khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 10,6kg.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HS-ST, ngày 23 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk RLấp, tỉnh Đăk Nông đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Triệu Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25-01-2021 đến ngày 03-02-2021.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05-5-2021, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 05-7-2021, bị cáo có đơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng người, đúng tội, không oan. Lý do kháng cáo là vì mức hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là quá cao, gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, bị cáo là lao động chính và gia đình bị cáo có công với cách mạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm: Việc kháng cáo của bị cáo là đúng chủ thể và trong thời hạn luật định. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt và nơi cư trú ổn định, việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết mà bị cáo có khả năng tự cải tạo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt: Giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vào khoảng 19 giờ ngày 24 tháng 01 năm 2021, tại đoạn đường gần trường tiểu học L thuộc thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Triệu Thị H đang có hành vi dùng xe môtô biển kiểm soát 93H1- 034.79 chở 02 gói pháo nổ dạng hình cầu và 02 hộp pháo nổ dạng hình trụ tròn (pháo hoa nổ) để đi bán thì bị Công an huyện Đắk R’lấp phối hợp với Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang. Sau đó Triệu Thị H tự nguyện giao nộp thêm 04 gói pháo nổ dạng hình cầu và 04 hộp pháo nổ dạng hình trụ tròn được cất giấu tại nhà nhằm mục đích bán trái phép. Tổng khối lượng pháo nổ mà bị cáo dùng vào mục đích bán trái phép là 12,7kg. Như vậy, bản án sơ thẩm số: 24/2021/HS-ST, ngày 23-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp xử phạt bị cáo Triệu Thị H về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có cha đẻ là ông Triệu Văn V là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn. Mặt khác, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định và rõ ràng, việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết mà bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Triệu Thị H. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông và gia đình bị cáo cùng phối hợp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở trên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 21; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Triệu Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Công an huyện Đăk RLấp; - VKSND huyện Đăk RLấp; - TAND huyện Đăk RLấp; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo, Người tham gia tố tụng; - Lưu: THCTP, THS, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Bùi Thị Ngọc |