vanban.org

Bản án 58/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 23/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Trọng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn Trọng 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 48/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh lạng Sơn; 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 109/2019/HS-ST ngày 11/7/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Trọng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tand huyÖn lôc nam
tØnh b¾c giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HSST
Ngày: 23/8/2019

NH©N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toan

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

2. Ông Nguyễn Hữu Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự- Thư ký TAND huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang .

- Đại diện VKSND huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Thân Mạnh Thắng- Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2019/HSST ngày 02/8/2019 đối với bị cáo:

Đinh Văn T. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 8 năm 1990; Nơi sinh: Xã K, huyện N, tỉnh N; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đinh Văn Nga, sinh năm 1964; Con bà: Đinh Thị Miên, sinh năm 1969; Bị cáo có 02 anh em ruột, bản thân là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Bùi Thị Huyền, sinh năm 1992; Bị cáo có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2013/HS-ST ngày 06/02/2013 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo Đinh Văn Trọng 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 65/2014/HS-ST ngày 14/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo Đinh Văn Trọng 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Đinh Văn Trọng 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2019.

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 109/2019/HS- ST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Đinh Văn Trọng 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2019.

Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù trong bản án khác từ ngày 21/01/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

1/ Bị hại:

Anh Giáp Văn T, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

2/ Ng êi cã quyÒn lîi nghÜa vô liªn quan:

Chị Lê Thị T, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn Bảo L, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

Néi dung vô ¸n

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp nhận Công văn trao đổi thông tin về tội phạm ngày 22/3/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh L về việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đang thụ lý điều tra vụ án hình sự Trộm cắp tài sản (xe mô tô) xảy ra ngày 20/01/2019 tại Khối 10, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo của vụ án là Đinh Văn Trọng, sinh năm 1990, trú tại thôn Đồng Chạo, xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 98B3 - 287.44 tại khu vực huyện Lục Nam vào ngày 17/01/2019.

Sau khi nhận được công văn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã tiến hành xác minh chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 98B3 - 287.44 và xác định do chị Lê Thị Thủy sinh năm 1986 trú tại thôn Bảo Lộc 2, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam đăng ký lần đầu ngày 19/9/2018.

Tại Cơ quan điều tra, chị Thủy và chồng là anh Giáp Văn Tân, sinh năm 1984 khai chiếc xe là tài sản chung của hai vợ chồng mua vào tháng 8/2018, xe có lắp thêm phụ kiện là khung kim loại bảo vệ thân xe và ốp bảo vệ chắn bùn bánh trước. Vào chiều ngày 17/01/2019, sau khi đi làm về, chị Thủy ở nhà nấu cơm còn anh Tân lấy chiếc xe mô tô 98B3 - 287.44 đi sang nhà em trai là anh Giáp Văn Tôn, sinh năm 1991 ở cùng thôn (gần đường tàu cắt ngang) để kiểm tra tiến độ công trình xây dựng nhà. Khi đến nơi, anh Tân dựng xe mô tô 98B3-287.44 bằng chân chống phụ, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra ngoài đường, xe vẫn cắm chìa khóa điện ở trạng thái mở, máy không nổ, đèn xe sáng, anh Tân đi vào trong nhà và lên tầng 2 kiểm tra, khoảng 10 phút đến 15 phút sau anh Tân đi xuống cửa nhà thì phát hiện đã bị mất trộm chiếc xe mô tô nêu trên. Vợ chồng anh Tân, chị Thủy có đi tìm nhưng không thấy, nghĩ không thể tìm được nên anh chị không trình báo đến Công an, nay anh chị được Cơ quan điều tra- Công an huyện Lục Nam thông báo về kẻ gian trộm cắp xe mô tô của gia đình, anh chị đều đề nghị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 16/4/2019 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam đã tiến hành định giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision, màu sơn xanh, biển số 98B3-287.44, số máy JF66E1061288, số khung RLHJF5815GY961136, xe có khung kim loại bảo vệ thân xe, ốp bảo vệ đầu trước chắn bùn bánh trước xe mô tô. Tổng trị giá tài sản là 29.637.000đ.

Quá trình điều tra, Đinh Văn Trọng khai nhận như sau: Khoảng 13 giờ ngày 17/01/2019, Đinh Văn Trọng đến huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn chơi thì gặp Bùi Văn Chiến, sinh năm 1989, trú tại bản Mét, xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình tại một quán điện tử bắn cá. Do không có tiền chi tiêu cá nhân, Trọng đã rủ Chiến đi dọc đường xem có xe mô tô nào sơ hở thì lấy trộm và Chiến đồng ý. Sau đó, Trọng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream không rõ biển số chở Chiến ngồi sau đi theo Quốc lộ 1 để xuống Bắc Giang, khi đi đến ngã tư Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thì Trọng rẽ phải đi về phía huyện Lục Nam. Trên đường đi qua đường sắt cắt ngang thuộc địa phận thôn Bảo Lộc 2, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Trọng nhìn thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu sơn xanh, biển số 98B3-287.44 đang dựng chân chống phụ ở trước cửa một nhà dân phía bên trái (theo hướng Kép- Lục Nam), đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra ngoài đường, trên xe vẫn đang cắm chìa khóa điện ở trạng thái mở khóa, đèn vẫn sáng nhưng máy không nổ. Trọng điều khiển xe mô tô đi qua rồi quay xe lại, đỗ xe ở mép đường phía trước cửa nhà dân đó rồi xuống xe. Trọng bảo Chiến ở lại cảnh giới rồi đi bộ về phía chiếc xe mô tô biển số 98B3-287.44, quan sát xung quanh cửa nhà thấy không có ai nên Trọng đã ngồi lên xe mô tô, gạt chân chống phụ, lùi xe ra đường, đuôi xe hướng Lục Nam, đầu xe hướng Kép. Trọng đề nổ máy và điều khiển xe trộm cắp được đi theo hướng Kép- Lạng Giang còn Chiến điều khiển chiếc xe Dream đi theo sau. Về đến huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, Trọng và Chiến vào một nhà nghỉ cạnh đường để ngủ qua đêm, đến sáng ngày 18/01/2019, Trọng và Chiến mang xe về huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn để tìm chỗ tiêu thụ, Chiến trực tiếp mang xe mô tô biển số 98B3- 287.44 đi bán được số tiền là 18.000.000đ. Cả hai chia nhau mỗi người 9.000.000đ, số tiền được chia Trọng đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream không rõ biển số mà Trọng chở Chiến đi trộm cắp, Trọng khai đưa xe này cho Chiến đi lại, nay Trọng không biết Chiến để ở đâu nên không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tân và chị Thủy yêu cầu bị cáo Trọng phải bồi thường số tiền 29.637.000đ. Quá trình điều tra Trọng chưa bồi thường cho anh Tân và chị Thủy số tiền này.

Đối với Bùi Văn Chiến mà Trọng khai đã cùng Trọng trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 98B3- 287.44 của anh Giáp Văn Tân. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Lục Nam xác minh nhưng Chiến không có mặt tại địa phương nên chưa lấy được lời khai của Chiến. Do chưa đủ chứng cứ để khởi tố Chiến trong vụ án này nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác. Chiếc xe mô tô biển số 98B3- 287.44 trộm cắp được của anh Giáp Văn Tân, Trọng khai do Chiến trực tiếp mang đi bán, do không biết Chiến đã bán xe cho ai nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam, Đinh Văn Trọng đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số 65/KSĐT ngày 30/7/2019 của VKSND huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Đinh Văn Trọng về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang sau khi luận tội, phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và trách nhiệm dân sự đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đinh Văn Trọng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* ¸p dông kho¶n 1 §iÒu 173; ®iÓm r, s kho¶n 1 §iÒu 51; Điều 38; Điều 56 BLHS n¨m 2015, xö ph¹t:

Đinh Văn Trọng tõ 18 th¸ng tï ®Õn 24 th¸ng tï; Tæng hîp víi h×nh ph¹t 36 th¸ng tï vÒ téi “ Trém c¾p tµi s¶n” t¹i b¶n ¸n sè 109/2019/HS-ST ngµy 11/7/2019 cña Tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè L¹ng S¬n, tØnh L¹ng S¬n, buéc bÞ c¸o ph¶i chÊp hµnh h×nh ph¹t chung cña 2 b¶n ¸n lµ 54 th¸ng tï ®Õn 60 th¸ng tï. Thêi gian chÊp hµnh h×nh ph¹t tï tÝnh tõ ngµy 21/01/2019. Kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.

VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù:

Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Tân, chị Thủy số tiền 29.637.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm nhưng bị cáo thuộc hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật bị cáo không phải chịu tiền án phí trên.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NhËn ®Þnh cña tßa ¸n

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong BLTTHS. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội: Buổi chiều ngày 17/01/2019, Đinh Văn Trọng khai điều khiển xe mô tô không biển số chở Bùi Văn Chiến đi từ Hữu Lũng- Lạng Sơn đến huyện Lục Nam với mục đích đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Trọng phát hiện trước cửa nhà anh Giáp Văn Tân thuộc thôn Bảo Lộc 2, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 98B3 - 287.44 không có người trông coi. Lợi dụng sơ hở, Bùi Văn Chiến đứng ngoài cảnh giới còn Đinh Văn Trọng đã trực tiếp trộm cắp xe mô tô trên rồi cả hai mang xe về huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn để tiêu thụ. Chiếc xe mô tô Honda Vision biển số 98B3 - 287.44 là của vợ chồng anh Giáp Văn Tân, chị Lê Thị Thủy có trị giá là 29.637.000đ, hiện chưa thu hồi được.

[3] Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận Đinh Văn Trọng phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đ đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tại bản cáo trạng số 65/2019/KSĐT ngày 30/7/2019 của VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đinh Văn Trọng về tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Ngoài những tình tiết định tội, định khung hình phạt, HĐXX xét thấy cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo, HĐXX thấy:

- Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Sau khi phạm tội bị cáo Trọng đã tự thú, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình thực hiện phạm tội thể hiện quyết tâm phạm tội của bị cáo, bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Do hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo trên cần nên một mức án tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo HĐXX cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo Đinh Văn Trọng có nhân thân xấu nhưng không chịu làm ăn lương thiện, không chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước. Ngày 21/11/2019 bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Tại bản án số 48/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 109/2019/HS-ST ngày 11/7/2019 của Tòa án thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Điều đó thể hiện bị cáo lười lao động, coi thường pháp luật

[5] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Trọng hiện không có nghề nghiệp, thuộc đối tượng hộ cận nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[7] Về mức án mà vị đại diện VKSND huyện Lục Nam đề nghị áp dụng, tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 98B3 - 287.44 bị cáo trộm cắp của anh Giáp Văn Tân hiện vẫn chưa thu hồi được. Tại lời khai ở cơ quan điều tra anh Tân yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá của chiếc xe là 29.637.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Tân số tiền 29.637.000đ như anh Tân yêu cầu nên HĐXX chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển số 98B3- 287.44 trộm cắp được của anh Giáp Văn Tân, Trọng khai do Chiến trực tiếp mang đi bán, do không biết Chiến đã bán xe cho ai, nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được, nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[10] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream không rõ biển số mà Trọng chở Chiến đi trộm cắp, Trọng khai đưa xe này cho Chiến đi lại, nay Trọng không biết Chiến để ở đâu nên cơ quan điều tra không thu giữ được, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[11] Đối với Bùi Văn Chiến mà Trọng khai đã cùng Trọng trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 98B3- 287.44 của anh Giáp Văn Tân. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Lục Nam xác minh nhưng Chiến không có mặt tại địa phương nên chưa lấy được lời khai của Chiến. Do chưa đủ chứng cứ để khởi tố Chiến trong vụ án này nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, nhưng bị cáo thuộc hộ cận nghèo, theo quy định của pháp luật bị cáo được miễn tiền án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điều 48 khoản 1 Điều 56 BLHS năm 2015, các Điều 584, 585, 586. 589, 357 và 468 BLDS; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Trọng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn Trọng 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 48/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh lạng Sơn; 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 109/2019/HS-ST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 3 bản án là 54 tháng (lăm tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm hại cho anh Giáp Văn Tân số tiền 29.637.000đ (Hai mươi chín triệu sáu trăm ba mươi bẩy nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS.

4. Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./

Cỡ chữ