- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lan ly hôn anh Cường"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào các Điều 51, 56, điều 58, Điều 81, Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 2 Điều 227,Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/ 2016/ của UBTVQH14Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:58/2019/HNGĐ-ST Ngày13/11/2019 V/v: Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Vinh
Các hội thẩm nhân dân:1- Ông Nguyễn Xuân Hoàng
2- Ông Nguyễn Ngọc Trứ
Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoan- thư ký Tòa án
Đại diện VKSND huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị HồngNhung - KSV
Trong các ngày 12 , 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 98/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019. về việc Tranh chấp hôn nhân gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn B Th, xã Đ B, huyện H H, tỉnh B G.
- Bị đơn: Anh Ngô Xuân C, sinh năm 1982.
Địa chỉ: khu 4, thị trấn T, huyện H H, tỉnh B G.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/5/2019, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Trịnh Thị Ltrình bày: Chị và anh C kết hôn với nhau ngày 16 tháng 5 năm 2008 trước khi kết hôn có tìm hiểu thỏa thuận có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thắng. Sau khi kết hôn chị về gia đình anh làm dâu ngay và ở chung với gia đình tình cảm vợ chồng lúc đầu bình thường hạnh phúc sau đó xẩy ra mâu thuẫn xuất phát từ việc kinh tế khó khăn hơn nữa anh hay rượu chè về đánh đập vợ con cho nên chị đã về nhà mẹ đẻ từ năm 2015. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2015 cho đến nay. Từ khi chị về nhà mẹ đẻ cho đến nay, anh không sang gọi chị về và không quan tâm đến chị, vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ và đề nghị được ly hôn.
Anh C vắng mặt tại phiên tòa tòa án đã giao giấy triêu tập nhiều lần nhưng anh C vẫn không đến Tòa án ngoài ra anh C cũng đề nghị xin vắng mặt vì vậy Tòa án không tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải được, chị L cũng đề nghị không hòa giải.
. Về con chung;Chị L xác định vợ chồng có 02 con chung Ngô Thu H sinh11/7/2008, Ngô Thu H sinh 20/01/2014 hiện H đang ở với anh, H đang ở với chị, ly hôn chị đề nghị để anh nuôi H, chị nuôi H và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản; chị L xác định vợ chồng ở chung với bố mẹ không có tài sản gì, không nợ chung không yêu cầu tòa án giải quyết.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa phát biểu; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng có ý thức chấp hành pháp luật và đề nghị; Chấp nhận yêu cầu của chị L; Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82,83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147, khoản 1 điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/ 12/ 2016. Chấp nhận yêu cầu của chị Trịnh Thị L: Chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Ngô Xuân C. Về con chung: Giao chị Trịnh Thị L nuôi Ngô Thu H sinh 20/01/2014 anh C trực tiếp nuôi Ngô Thu H sinh 11/7/2008 không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào cho đến khi có yêu cầu. Anh C, chị L được quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở anh C chị L thực hiện quyền này.
*Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng; Chị L và anh C kết hôn với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn, được xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị L có đơn xin ly hôn anh C đề ngày 04/5/2019 như vậy quan hệ tranh chấp giữa chị L và anh C được xác định là tranh chấp “ Hôn nhân và gia đình” theo quy định tại điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét việc anh C vắng mặt tại phiên tòa, nhưng Tòa án đã giao giấy triệu tập để tiếp cạn công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cũng như giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ nhiều lần cho anh C nhưng anh C vẫn vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh C là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh C được quyền kháng cáo vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của chị L thấy rằng qua các chứng cứ do các bên xuất trình lời khai người làm chứng được biết, vợ chồng chị L, anh C kết hôn với nhau và đã có thời gian sống hạnh phúc nhưng tình cảm nợ chồng không duy trì và phát triển được nên đã xẩy ra mâu thuẫn xuất phát từ việc chị cho rằng do kinh tế khó khăn hơn nữa anh hay rượu chè về đánh đập vợ con nên vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn vợ chồng hay cãi nhau.Năm 2015chị về nhà mẹ đẻ. Từ khi chị về nhà mẹ đẻ cho đến nay anh không sang gọi chị về để vợ chồng đoàn tụ, vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm từ đó cho đến nay, không bên nào quan tâm đến bên nào. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh C đã phát triển trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị L được ly hôn anh C là phù hợp, cho nên yêu cầu xin ly hôn của chị L cần được chấp nhận.
Về con chung: Xét yêu cầu về nuôi con của hai bên thấy rằng vợ chồng chị L, anh C có 02 con chung Ngô Thu H sinh 20/01/2014 hiện đang ở với chị, Ngô Thu H sinh 11/7/2008 hiện đang ở với anh các con của anh chị vẫn phát triển bình thường ly hôn chị đề nghị để chị nuôi Ngô Thu H sinh 20/01/2014 anh C trực tiếp nuôi Ngô Thu H sinh 11/7/2008 hơn nữa H cũng đề nghị được ở với anh. Ngoài ra chị hiện nay vẫn ở chung với mẹ đẻ xét thấy để đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ cần giao chị Trịnh Thị L trực tiếp nuôi Ngô Thu H sinh 20/01/2014 anh C trực tiếp nuôi Ngô Thu H sinh 11/7/2008 không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào cho đến khi có yêu cầu. Anh C, chị L được quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở anh C chị L thực hiện quyền này là phù hợp với điều 58,81,82,83Luật hôn nhân và gia đình cho nên yêu cầu của chị L cần được chấp nhận.
Vê tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, ruộng đất: chị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, đề nghị áp dụng điều luật, đường lối giải quyết là phù hợp với pháp luật cần chấp nhận.
Vì lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ vào các Điều 51, 56, điều 58, Điều 81, Điều 82,Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 2 Điều 227,Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/ 2016/ của UBTVQH14Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị L,
*Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Ngô Xuân C.
* Về con chung: Giao chị Trịnh Thị L trực tiếp nuôi Ngô Thu H sinh 20/01/2014 anh C trực tiếp nuôi Ngô Thu H sinh ngày 11/7/2008 không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào cho đến khi có yêu cầu. Anh C, chị L được quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở anh C, chị L thực hiện quyền này.
*Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/ 0000866 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hoà. Xác nhận chị L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
*Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. Nơinhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Giang;
| - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - THADS huyện Hiệp Hòa; - UBND thị trấn Thăng; - Đương sự - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hà Văn Vinh |