- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2017/HSST Ngày: 30/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các hội thẩm nhân dân :
1/ Ông Phạm Văn Minh
2/ Bà Trần Thị Ngọc Linh
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Ông Trương
Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.
* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Thanh Lê Anh Tuấn
----------------------
Ngày 30 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy
Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2017/HSST ngày
21/7/2017 đối với bị cáo:
NGUYỄN NGỌC S (tên gọi khác: ), sinh ngày 10/6/1994
Nơi sinh: huyện B, tỉnh Bình Thuận;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chổ ở: Khu phố L, thị trấn L1,
huyện B, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ
học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không;
Cha: Nguyễn Ngọc T – sinh năm 1972;
Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L1, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Mẹ :Nguyễn Thị H – sinh năm 1970
Nơi cư trú: thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Anh chị em ruột: có người, lớn nhất sinh năm , nhỏ nhất sinh năm .
Vợ, con: chưa có
Tiền án: Ngày 21/09/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử
phạt 04 năm tù về tội: Cướp giật tài sản (theo bản án sơ thẩm bản án số
41/2012/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05.02.2015.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt giam từ ngày 25.5.2017, hiện đang bị tạm giam tại nhà
tạm giữ công an huyện Tuy Phong.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Trịnh Thị A , sinh năm (vắng mặt)
Ông Cao Ngọc T, sinh năm (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn V, xã V1, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Ngọc S bị Viện kiểm sát nhân nhân huyện Tuy Phong
truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 25/5/2017 Lê Thị C mượn xe mô tô biển số
86B2-287.12 của Lê Văn L (em ruột của C) để đi thăm bạn ở xã V1, huyện T. Khi đang chuẩn bị đi thì Nguyễn Ngọc S (ở cùng xóm với C) xin đi nhờ ra nhà anh của Ngọc S ở xã V1, huyện T chơi. C đồng ý giao xe mô tô biển số 86B2-287.12 cho Ngọc S chở C ngồi phía sau chạy từ thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình đến khu vực nhà trọ Ánh Sáng thuộc thôn V, xã V1, huyện T. Đến nơi khoảng 14 giờ cùng ngày, Ngọc S bảo C đứng chờ trước hành lang nhà trọ để Ngọc S vào phòng trọ gặp người anh của Ngọc S, khi vào trong dãy nhà trọ thấy vắng người nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ngọc S nhìn thấy phòng trọ số 02 do vợ chồng ông Cao Ngọc T , bà Trịnh Thị A thuê ở có khóa ổ khóa nhỏ nên Ngọc S dùng cây Tuốc nơ vít bọc sẵn ở túi quần cậy phá làm bung ổ khóa. Ngọc S mở cửa phòng vào bên trong lấy 01 máy tính xách tay màu đen hiệu Asus Model X553M, 01 cục sạc (adapter)-ADP-33AW, 01 chuột máy tính hiệu Genius-125; 01 điện thoại di động hiệu Samsung-GT-C3312R màu trắng, màn hình cảm ứng - 2,8 inch; 01 bộ tai nghe hiệu Sony-EXTRABASS XB250 màu đen; 01 cục sạc dự phòng hiệu E-VALU màu hồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Omega để ở gốc phòng. Ngọc S lấy ba lô có sẵn trong phòng rồi cho tất cả số tài sản nêu trên vào ba lô, Ngọc S tiếp tục lục tìm trong túi xách quần áo để ở sát vách tường lấy 02 chiếc ví trong đó 01 chiếc ví bên trong có 900.000 đồng cùng 02 chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Thị A và Cao Ngọc T ; 01 bằng lái xe mang tên Cao Ngọc T ; 01 đăng ký xe mô tô biển số 47E1-273.74 bỏ vào trong ba lô thì Ngọc S nghe có tiếng xe máy bên ngoài, sợ bị phát hiện nên Ngọc S mang ba lô chứa tài sản trộm cắp đi ra khỏi phòng trọ. Cùng lúc vợ chồng ông Cao Ngọc T , bà Trịnh Thị A đi về phát hiện bắt giữ Ngọc S rồi điện báo công an xã V1 đến lập biên bản phạm tội quả tang.
Theo biên bản và Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG ngày
26.5.2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phong xác định giá thực tế đối với các tài sản như sau:
+ 01 bộ máy tính xách tay hiệu Asus model X553M (Kèm theo sạc và
chuột), trị giá: 5.700.000 đồng/bộ x 80% = 4.560.000 đồng.
+ 01 bộ tai nghe hiệu Sony-EXTRABASSXB250, trị giá: 990.000
đồng/bộ x 80% = 792.000 đồng.
+ 01 cục sạc dự phòng hiệu e-VALU, trị giá: 200.000 đồng/cục x 90%
= 180.000 đồng.
+ 01 chiếc điện thoại di động Samsung-GT-C3312R, trị giá: 725.000
đồng/chiếc x 15% = 108.750 đồng.
+ 01 chiếc đồng hồ đeo tay Omega, trị giá: 420.000 đồng/chiếc x 30%
= 126.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá: 5.766.750 đồng.
Tổng tài sản Nguyễn Ngọc S trộm cắp của vợ chồng ông Cao Ngọc
T , bà Trịnh Thị A là 6.666.750 đồng gồm tài sản định giá 5.766.750 đồng và
900.000 đồng tiền mặt trong ví.
Tại bản cáo trạng số: 55/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 21/7/2017 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội
“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được
sửa đổi bổ sung năm 2009).
Ta ̣i phiên tòa đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử : Á p du ̣ng
khoản 1 Điều 138, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm
1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Ngọc S
pha ̣m tội “Trộm cắp tài sản” và xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Ngọc S từ 12 tháng
đến 15 tháng tù.
Bi ̣ cáo xác đi ̣nh cáo tra ̣ng truy tố không oan sai và đa khai nhâ ̣̃
n hành
vi pha ̣m tô ̣i như cáo tra ̣ng truy tố.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham
gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ
quan điều thu thập, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ ngày 25/5/2017 tại khu vực nhà trọ Ánh Sáng thuộc
thôn V, xã V1, huyện T, Nguyễn Ngọc S lén lút vào phòng trọ số 02 của vợ
chồng ông Cao Ngọc T , bà Trịnh Thị A dùng cây Tuốc nơ vít bọc sẵn ở túi
quần cậy phá làm bung ổ khóa cửa và lấy trộm 01 máy tính xách tay màu
đen hiệu Asus Model X553M, 01 cục sạc (adapter)-ADP-33AW, 01 chuột
máy tính hiệu Genius-125; 01 điện thoại di động hiệu Samsung-GT-C3312R
màu trắng, màn hình cảm ứng - 2,8 inch; 01 bộ tai nghe hiệu Sony-
EXTRABASS XB250 màu đen; 01 cục sạc dự phòng hiệu E-VALU màu
hồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Omega, 01 chiếc ví bên trong có 900.000
đồng cùng 02 chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Thị A và Cao Ngọc T ;
01 bằng lái xe mang tên Cao Ngọc T ; 01 đăng ký xe mô tô biển số 47E1-
273.74. Ngọc S bỏ tài sản trộm cắp vào trong ba lô có sẳn trong phòng đi ra
khỏi phòng trọ. Cùng lúc vợ chồng ông T, bà A đi về phát hiện bắt giữ Ngọc
S rồi điện báo công an xã V1 đến lập biên bản phạm tội quả tang.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG ngày 26.5.2017
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phong và
900.000 đồng tiền mặt trong ví của bị hại thì tổng tài sản Nguyễn Ngọc S
trộm cắp là 6.666.750 đồng.
Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bi ̣ cáo Nguyễn Ngọc S
khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai
người bị hại, cũng như các chứng cứ khác do cơ quan điều tra đã thu thập có
trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Hội
đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Về vấn đề tiền án của bị cáo, theo bản án số 41/2012/HSST ngày
21/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xác định bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội khi được 17 tuổi 15 ngày, xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội cướp giật tài sản, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tại biên bản xác minh ngày 05/6/2017 của cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Tuy Phong, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong đã xác định bị cáo Ngọc S đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 20/3/2013. Ngày 05/2/2015 bị cáo Ngọc S đã chấp hành xong án phạt tù của bản án theo giấy chứng nhận số 199/GCN ngày 05/2/2015 của Trại giam Huy Khiêm. Theo điểm c khoản 2 Điều 64, khoản 1 Điều 77 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) thì từ lúc chấp hành xong án phạt tù ngày 05.2.2015 đến ngày phạm tội là ngày 25/5/2017 bị cáo Ngọc S chưa được coi là xóa án tích. Trường hợp của bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 49 Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì tính đến ngày phạm tội là ngày 25/5/2017 bị cáo Ngọc S được coi là đương nhiên được xóa án tích. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về qui định có lợi cho bị cáo thì HĐXX không xem đây là trường hợp tái phạm, tình tiết để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo Ngọc S là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng
với bản tính tham lam, lười lao động đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của ngườ i khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần thiết phải tiếp tu ̣c cách ly bi ̣ cáo ra khỏi đờ i sống xa hô ̣̃ i mô ̣t thờ i gian đủ cải ta ̣o, giáo du ̣c bi ̣ cáo trở thành ngườ i tốt sống có ich cho xa hô ̣̃ i thông qua đó răn đe và
́
phòng ngừ a chung cho xa hô ̣̃ i.
Trong giai đoa ̣n điều tra và ta ̣i phiên tòa bi ̣ cáo khai báo thành khẩn,
nên đây là tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Đối với bà Lê Thị C là người đi cùng với bị cáo đến nơi xảy ra hành
vi phạm tội nhưng cơ quan điều tra xác định bà C và bị cáo không có bàn bạc trước, không có hành vi giúp sức cho bị cáo và không xử lý C do đó HĐXX không xem xét.
Về vâ ̣t phần dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản cho bị
hại theo quy định pháp luật và người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ 01 cây Tuốc nơ
vít dài 20cm, có hàng chữ PH2 STANDARD là vật không còn giá trị sử
dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Riêng xe mô tô biển số 86B2-287.12, cơ quan điều tra đã trả lại cho
chủ sở hữu Lê Văn L vì L không biết Ngọc S dùng để trộm cắp tài sản là phù
hợp.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 138, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ
luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).
* Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 12 tháng tù; thời hạn tù tính từ
ngày bị bắt giam 25/5/2017.
* Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng
hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây tuốc nơ vít dài 20cm, có hàng chữ PH2
STANDARD là vật không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/7/2017 giữa cơ quan
cảnh sát điều tra, công an huyện Tuy Phong và Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Tuy Phong).
* Về án phí: áp du ̣ng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Quyền kháng cáo bản án của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ
ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND huyện Tuy Phong - Công an huyện Tuy Phong - Người tham gia tố tụng - UBND địa phương nơi b/c thường trú - Chi cục THADS h.Tuy Phong - Lưu hồ sơ | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký NGUYỄN LÊ PHƯƠNG |