vanban.org

Bản án 57/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 29/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Nông Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Đức H 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 06/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Đức H- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Nông Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HSST
Ngày: 29/5/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Nhâm.

Bà Phạm Thị Sinh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Mạc Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2023/HSST ngày 25/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nông Đức H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã S, huyện B1, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Đức D và bà Bàn Thị D1; có vợ là Lý Thị H1 và 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015); tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 11/5/2009, bị Công an huyện B1, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với mức phạt tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), ngày 12/5/2009 đã chấp xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 06/02/2023, hiện nay đang tại ngoại. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Thị H1, sinh năm 1995. Trú tại: Thôn N, xã S, huyện B1, tỉnh B. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 01/02/2023, tại khu vực tổ Bản C, phường H, thành phố B2, tỉnh B, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố B2 phát hiện, bắt quả tang Nông Đức H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng trong lòng bàn tay phải Nông Đức H (niêm phong trong phong bì ký hiệu H1); 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 667.xx đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nông Đức H tại thôn N, xã S, huyện B1, tỉnh B. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Nông Đức H khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng dạng cục và bột có trong 01 gói giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc Cơ quan điều tra thu giữ tại lòng bàn tay phải H là ma túy loại Heroine của H tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Nông Đức H khai: Bản thân H là người nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 01/02/2023, H điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B1- 667.xx đi từ nhà thuộc thôn N, xã S, huyện B1, tỉnh B đến thành phố B2, tỉnh B để tìm mua chất ma tuý để sử dụng. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến khu vực đầu cầu H thuộc tổ 17, phường Ng, thành phố B2 thì gặp một người đàn ông, qua nói chuyện H biết người đàn ông này tên Th (không biết họ và tên đệm, năm sinh, địa chỉ cụ thể) cũng là người nghiện chất ma túy. Trong quá trình nói chuyện H nói mình cũng người nghiện chất ma túy, đang bị mệt, cần ma túy loại Heroine nhưng không có tiền mua và hỏi Th có ma túy không thì Th cho H một ít thì được Th đưa cho 01 (một) gói ma túy được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc và nói “cầm lấy dùng đi, không cần đưa tiền”. Sau khi cho H ma túy thì Thái đi đâu H không biết, còn H cầm số ma túy vừa được cho giấu trong lòng bàn tay phải và tiếp tục điều khiển xe môtô đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực tổ Bản C, phường H thì bị tổ công tác Công an thành phố B2 bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy và 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-667.xx đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.

Tiến hành cân riêng số chất dạng cục và bột màu trắng thu giữ của Nông Đức H trong phong bì ký hiệu H1 có khối lượng 0,12 gam (không phẩy mười hai gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ chất dạng cục và bột màu trắng nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định; phong bì ký hiệu H 1 và gói giấy cũ niêm phong vào phong bì ký hiê ̣u A2 bảo quản theo quy định.

Tại kết luận giám định số 46/KL-KTHS ngày 04/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại heroine, có khối lượng là 0,12 gam (không phẩy mười hai gam)”. Sau giám định, mẫu chất còn lại trong phong bì ký hiệu A1 còn lại 0,08 gam (không phẩy không tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu T31 hoàn trả lại cho Cơ quan điều tra.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSTP ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Nông Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

......

c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 13 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 06/02/2023.

Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T31; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2. Trả lại cho bà Lý Thị H1 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát: 97B1-667.xx, chiếc xe đã qua sử dụng; Số máy JA39E0181819 và số khung: 3907HY181794 cùng một chìa khóa xe.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 01/02/2023, tại khu vực tổ Bản C, phường H, thành phố B2, tỉnh B, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố B2, tỉnh B bắt quả tang Nông Đức H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam (không phẩy mười hai gam) ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền sự, tiền án; nhân thân: Ngày 11/5/2009, bị Công an huyện B1, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với mức phạt tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), ngày 12/5/2009 đã chấp xong.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T31, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Vụ: Nông Đức H (1990) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên ven; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Phong bì và gói giấy cũ vụ Nông Đức H ngày 01/02/2023”, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hưng, 01 (một) chữ Nông Đức Hưng, 01 (một) dòng chữ Phạm Hồng Đ và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát: 97B1-667.xx, chiếc xe đã qua sử dụng; Số máy JA39E0181819 và số khung: 3907HY181794 cùng một chìa khóa xe, đăng ký chủ xe mang tên Lý Thị H1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định chiếc xe là tài sản riêng của bà H1. Tại phiên tòa bà H1 đề nghị được nhận lại chiếc xe, chìa khóa xe. Xét thấy việc bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy bà H1 không biết, nên cần trả lại chiếc xe, chìa khóa xe cho bà H1.

* Trong vụ án này còn có người đàn ông tên Th đã cho Nông Đức H ma túy, nhưng do H không biết họ, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo Nông Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nông Đức H 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 06/02/2023.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T31, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Vụ: Nông Đức H (1990) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên ven; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Phong bì và gói giấy cũ vụ Nông Đức H ngày 01/02/2023”, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ Hưng, 01 (một) chữ Nông Đức H, 01 (một) dòng chữ Phạm Hồng Đ và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn;

- Trả lại cho bà Lý Thị H1: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát: 97B1-667.xx, chiếc xe đã qua sử dụng; Số máy JA39E0181819 và số khung: 3907HY181794 cùng một chìa khóa xe.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nông Đức H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Cỡ chữ