vanban.org

Bản án 57/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 05/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ, Trần Thị L.A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt các bị cáo: Vũ Tuấn Đ 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ, Trần Thị L.A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST.
Ngày 05 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/HSST-QĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1999 tại Hà Nam; nơi cư trú: thôn 3 TV, xã NC, huyện LN, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

2. Nguyễn Thị Hồng Q, sinh năm 2003 tại Nam Định; nơi cư trú: thôn NMT, xã YC, huyện YY, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến H và bà Phạm Thị Y; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/9/2019 Công an huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2022 đến ngày 05/9/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định về việc Bảo lĩnh, sau đó lại tiếp tục bị tạm giam từ ngày 01/10/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

3. Vũ Thị Thùy T, sinh năm 2000 tại Hà Nam; nơi cư trú: tổ dân phố NC, thị trấn VT, huyện LN, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C và bà Lã Thị P; chồng: Chưa có; con: Có 01 con sinh ngày 22/3/2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/8/2022 đến ngày 25/8/2022 được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang được tại ngoại tại địa phương theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; có mặt.

4. Văn T.A, sinh năm 1989 tại Hà Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 11, phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: tổ 6, phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Thế H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu H; có vợ là Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1996; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Ngày 15/6/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 48 tháng về tội “Đánh bạc”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/9/2010, Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

5. Vũ Tuấn Đ, sinh năm 2002 tại Nam Định; nơi cư trú: tổ 2, phường ND, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tuấn Đ và bà Nguyễn Thị Thu H; vợ: Chưa có; con: Có 01 con sinh năm 2020; tiền án: Ngày 28/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/01/2019 Công an phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cản trở người thi hành công vụ và không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

6. Trần Thị L.A, sinh năm 1997 tại Hà Nam; nơi cư trú: tổ 6, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Trương Thị T; chồng: Nguyễn Viết D, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993; trú tại: tổ dân phố NS, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2/ Công ty Cổ phần liên doanh Vạn Hải Lý - Happytex; địa chỉ: Khu tái định cư DN, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1983; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc; trú tại: tổ dân phố TH, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

3/ Anh Trần Văn H, sinh năm 1993; trú tại: thôn CH, xã TL, huyện ĐH, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.

4/ Chị Lê Thị Cẩm N, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn TS, xã SP, huyện HS, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 13/8/2022, Nguyễn Thị Hồng Q, Nguyễn Thị Thúy H, Vũ Thị Thùy T và Văn T.A đến khách sạn Vạn Hải Lý thuộc tổ dân phố Ngô Gia Khảm, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý thì gặp Trần Thị Hoài N (tên thường gọi là Ngọc Bin), N rủ cả nhóm đến nhà N chơi, sử dụng ma túy. Tại nhà N, T.A nói “Lấy chơi đi” (ý T.A bảo cả nhóm lấy ma túy ra để cùng sử dụng), H nói “Lấy như thế nào, lấy nửa của nửa nhé”, T nói “để tao gọi cho”, sau đó T gọi điện hỏi mua ma túy dạng Ketamine rồi bảo H chuyển tiền vào số tài khoản 09996918095555 của Phạm Tuấn A, sinh năm 2000, trú tại xã LA, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định thì H quay sang bảo T.A chuyển 29.000.000đ tiền mua ma túy đến số tài khoản của Phạm Tuấn A. Một lúc sau T đi ra ngoài rồi cầm túi ma túy dạng Ketamine vào trong phòng và nói “giờ lấy đĩa ở đâu”, Nam đi xuống phòng bếp tầng 1 cầm chiếc đĩa sứ màu trắng hình tròn mang lên đưa cho T, T cầm đĩa mang vào nhà vệ sinh đốt cho nóng đáy đĩa rồi đổ ma túy ra đĩa, dùng thẻ nhựa màu đen xào ma túy. Khoảng 00 giờ ngày 14/8/2022, T tiếp tục xào ma túy, dùng tờ tiền mệnh giá 10.000đ cuộn làm tẩu hút và tự sử dụng rồi lần lượt kẻ ma túy và đưa tẩu hút cho Q, H, T.A, N sử dụng. Sau đó Q kẻ ma túy đưa ống tẩu cho H, T.A sử dụng. Đến khoảng 02 giờ sáng, Vũ Tuấn Đ cùng Nguyễn T.A Đ đi làm về vào phòng tầng 2 của N ngồi chơi một lúc thì Nguyễn T.A Đ về trước, không sử dụng ma túy. Sau đó Nam nói với mọi người là rủ vợ chồng L.A sang chơi, N và T đi sang phòng bên cạnh rủ Trần Thị L.A và Nguyễn Văn H (là người yêu L.A) sang phòng của N thì T xào ke, kẻ ke mời L.A và H sử dụng.

Đến khoảng 04 giờ ngày 14/8/2022, cả nhóm chuyển đến quán Karaoke Lasvegas - Thanh An thuộc tổ dân phố Nam Cao, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân để tiếp tục sử dụng ma túy. Q lấy ra tờ tiền 5000đ đổ số ma túy trên đĩa vào tờ tiền gói lại và bỏ cùng tẩu vào túi sách của mình mang đi. Q, H, T, Đ đi cùng xe ô tô biển kiểm soát 30H-439.64 của T.A, còn N, L.A và Hà đi xe taxi đến quán Karaoke Lasvegas thì H thuê phòng 401. Tại phòng 401, quán Karaoke Lasvegas, Q lấy gói ma túy dạng Ketamine trong tờ tiền 5000đ để trên mặt đĩa cùng với tẩu, Đ cầm gói ma túy đổ ra đĩa rồi dùng thẻ cứng có sẵn trong phòng 401 xào ma túy rồi để lên bàn. L.A cầm đĩa ma túy kẻ một đường để sử dụng rồi tiếp tục kẻ thành nhiều đường mời Hà, Q, T sử dụng rồi bỏ đĩa ma túy lên bàn, Đ tự kẻ ma túy sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy thì Q sử dụng điện thoại của Q nhắn tin cho số điện thoại 0888884444 của một người tên Đ ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (là bạn của Q chưa xác định được địa chỉ) để hỏi chỗ mua ma túy. Người đàn ông tên Đ nhắn tin cho Q số điện thoại của người bán ma túy. Q liên hệ và đặt mua ba chỉ ma túy ke với giá 7.500.000đ. Sau đó, Q nói với H “Chị ơi tiền ke hết bảy triệu rưỡi”. H vay T.A số tiền 7.500.000đ đưa cho Q. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/8/2022, Q xuống dưới sân quán Karaoke Lasvegas gặp người nam thanh niên lấy 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong túi có 06 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ đều chứa chất tinh thể màu trắng rồi đưa cho người nam thanh niên số tiền 7.500.000đ. Khi Q đi vào tầng 1 quán Karaoke Lasvegas thì gặp mọi người trên phòng 401 đi xuống. H thanh toán tiền phòng hát rồi cả nhóm quay trở về Phủ Lý để tiếp tục sử dụng ma túy.

Khoảng 10 giờ ngày 14/8/2022, H, Q, N, T, Đ và T.A đi xe ôtô của T.A đến khách sạn Vạn Hải Lý thuộc tổ dân phố Ngô Gia Khảm, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, còn L.A và H không đi cùng. H sử dụng căn cước công dân của Đ và giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Cẩm N đưa cho Đỗ Hoàng H (nhân viên lễ tân) thuê phòng 903, 905, H trả trước 800.000đ tiền thuê phòng. Sau đó H, Q, N và T vào phòng 903, Đ cùng T.A vào phòng 905 nghỉ. Tại phòng 903 Q lấy túi ma túy ke ra đưa cho T và nói “Chị cất gọn chỗ nào đi”, T cầm túi ma túy ke và cất giấu dưới hộp đựng giấy ăn để trên bàn. N gọi điện thoại cho một người lái xe taxi đến nhà của N lấy loa đèn mang đến khách sạn Vạn Hải Lý. Đến khoảng 13 giờ ngày 14/8/2022, Đ đi sang phòng 903 thì N bảo Đ xuống lấy loa đèn và bảo Q đưa cho Đ 200.000đ để trả tiền taxi. Đ đi ra khỏi phòng, một lúc sau quay lại mang vào phòng một chiếc túi bên trong có 01 chiếc loa và 01 chiếc đèn. Q cùng Đ về phòng 905 để ngủ nghỉ, H, T.A, T, N ngủ ở phòng 903. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, N gọi điện thoại rủ L.A và H đến, cả nhóm ngồi ăn cơm tại đây. Ăn cơm xong T.A, L.A, H và N ra về. H bảo Đ bật nhạc và đèn nháy, Đ lấy đèn ra đặt trên kệ tivi, lấy điện thoại của T kết nối với loa để bật nhạc, H bảo T xào ke. T lấy đĩa sứ màu trắng hình tròn có sẵn trong phòng 903 mang vào nhà vệ sinh dùng máy sấy tóc để hơ nóng đáy đĩa rồi tiếp tục dùng bật lửa ga màu hồng hơ nóng đáy chiếc đĩa. T bảo Đ “Lấy cho chị túi đồ” và chỉ tay hướng về hộp đựng giấy ăn để trên bàn, Đ cầm túi ma túy ke đưa cho T, sau đó Q cầm túi ma túy ke, đổ tất cả số ma túy trong 06 túi vào một túi nilon to, T cầm túi ma túy đổ một ít ma túy ke ra đĩa rồi dùng chiếc thẻ cứng màu đen để xào ma túy ke và kẻ đường. Đ và Q mỗi người lấy trong túi xách của Q ra 01 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ để trên mặt bàn. T tự bê đĩa sử dụng hết hai đường ma túy ke rồi để xuống giường và Đ cầm đĩa ma túy ke lên sử dụng một đường. Đến khoảng 21 giờ 50 phút ngày 14/8/2022 thì lực lượng Công an thành phố Phủ Lý phối hợp cùng phòng PC06 - Công an tỉnh Hà Nam tiến hành kiểm tra và bắt giữ.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

+ 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, trên bề mặt đĩa có bám dính chất tinh thể màu trắng; 02 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ; 01 thẻ cứng màu đen bám dính chất tinh thể màu trắng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu KT01.

+ 06 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong đều bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu KT02.

+ 01 túi nilon màu trắng kẹp nhựa viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu KT03.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Hồng Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Vũ Thị Thùy T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh của Nguyễn Thị Thúy H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 chiếc Laptop nhãn hiệu ASUS màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Tuấn Đ của Vũ Tuấn Đ; 01 chiếc loa nhãn hiệu JBL màu đen, 01 đèn nháy màu đen, 01 bật lửa ga màu vàng, 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Cẩm Nhung.

Ngày 15/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở, đồ vật, tài sản của Nguyễn Thị Hồng Q tại thôn NMT, xã YC, huyện YY, tỉnh Nam Định. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Ngày 21/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét đối với chỗ ở, đồ vật, tài sản của Trần Thị Hoài N tại tổ 8, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

* Ngày 15/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định trưng cầu giám định số 136 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Thị Thúy H, Vũ Thị Thúy T, Nguyễn Thị Hồng Q và Vũ Tuấn Đ, ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3 và M4.

Tại bản kết luận giám định số 428/KL-KTHS ngày 20/8/2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

- Tìm thấy chất ma túy MDMA, Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu M1, M2, M3, M4 gửi giám định.

- Tìm thấy chất Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu M3 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 427/KL-KTHS ngày 20/8/2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

- 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 02 tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cuốn tròn; 01 thẻ nhựa cứng trong hộp ký hiệu KT01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Ketamine.

- 06 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu đỏ trong phong bì ký hiệu KT02 gửi giám định có bám dính ma túy loại Ketamine.

- Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu KT03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,689g, loại Ketamine.

* Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-PL ngày 12/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A và Vũ Tuấn Đ đều bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị L.A bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ, Trần Thị L.A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 (đối với các bị cáo H, Q, T, T.A, Đ); điểm n khoản 1 Điều 51 (đối với Q); khoản 2 Điều 51 (đối với H, Q, T.A); điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với các bị cáo T.A, Đ); khoản 2 Điều 56 (đối với T.A) của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Vũ Tuấn Đ từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

Bị cáo Văn T.A từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 432/2021/HS-PT ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là 24 tháng tù cho hưởng án treo, buộc bị cáo Văn T.A phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù.

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng Q từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Vũ Thị Thùy T mỗi bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Thị L.A. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị L.A từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định; 07 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 thẻ cứng màu đen; 01 bật lửa ga màu vàng.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ dùng để cuốn tẩu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Hồng Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Vũ Thị Thùy T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh của Nguyễn Thị Thúy H; 01 chiếc loa nhãn hiệu JBL màu đen; 01 đèn nháy màu đen.

Trả lại Vũ Tuấn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; 01 chiếc Laptop nhãn hiệu ASUS màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Tuấn Đ.

Trả lại Lê Thị Cẩm N 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Cẩm N.

* Tại phiên tòa:

- Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ, Trần Thị L.A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ ngày 13/8/2022 đến 04 giờ ngày 14/8/2022, tại nhà ở của Trần Thị Hoài N thuộc tổ 8, phường LHP, thành phố PL, các đối tượng Trần Thị Hoài N, Văn T.A, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Nguyễn Thị Thúy H đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau: N chuẩn bị địa điểm, công cụ và rủ T.A, Q, T, H, L.A, Nguyễn Văn H sử dụng trái phép chất ma túy; T và H liên hệ mua ma túy; T lấy ma túy, hơ đĩa, xào ma túy, cuốn tẩu, kẻ ke đưa ma túy cho H, Q, T.A, Nam, L.A và H sử dụng; T.A cung cấp tiền để các đối tượng mua ma túy về sử dụng và điều khiển ô tô chở N, T, H, Q về nhà N sử dụng ma túy; Q kẻ ma túy đưa ống tẩu cho H, T.A sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong khoảng thời gian từ 04 giờ 30 phút đến 10 giờ ngày 14/8/2022 tại phòng 401 quán karaoke Lasvegas - Thanh An thuộc tổ dân phố Nam Cao, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân. Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Tuấn Đ, Nguyễn Thị Thúy H, Trần Thị L.A, Văn T.A đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau: H thuê phòng 401, đưa tiền cho Q để mua ma túy cho cả nhóm sử dụng trái phép chất ma túy; T.A cung cấp tiền để mua trái phép chất ma túy; Q chuẩn bị, liên hệ mua ma túy, cất ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Đ đổ ma túy ra đĩa, xào ma túy để cho các đối tượng sử dụng; L.A kẻ ma túy đưa cho Hà, Q, T sử dụng.

Khoảng 10 giờ ngày 14/8/2022, tại phòng 903 khách sạn Vạn Hải Lý thuộc tổ dân phố Ngô Gia Khảm, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Tuấn Đ, Vũ Thị Thùy T đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau: H thuê phòng, bảo T xào ke để các đối tượng sử dụng ma túy; Q cung cấp chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy; T hơ đĩa, xào ke cho các đối tượng sử dụng ma túy; Đ chuẩn bị công cụ, phương tiện sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng Công an thành phố Phủ Lý phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nhiều lần, tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Thị L.A đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp pháp luật.

Đối với Trần Thị Hoài N hiện đang bỏ trốn khỏi địa phương. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã ra Quyết định truy nã đối với Nam và ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của Trần Thị Hoài N để điều tra xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Đánh giá về vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Vũ Thị Thùy T, Nguyễn Thị Hồng Q, Văn T.A, Nguyễn Thị Thúy H và Vũ Tuấn Đ là người cung cấp chất ma tuý, chuẩn bị công cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò là người tổ chức. Bị cáo Trần Thị L.A đồng phạm với vai trò là người thực hành.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

* Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Vũ Thị Thùy T, Trần Thị L.A là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo Nguyễn Thị Hồng Q có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đến nay đã được xóa. Các bị cáo Văn T.A, Vũ Tuấn Đ đã từng bị xét xử chưa được xóa án tích và đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo Vũ Tuấn Đ đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện chính mình mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về ma túy, điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong khi lượng hình.

* Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Trần Thị L.A đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Các bị cáo Văn T.A, Vũ Tuấn Đ phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Thị Thúy H thuộc hộ nghèo, có ông ngoại có công với cách mạng, được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến; bị cáo Nguyễn Thị Hồng Q khi phạm tội đang có thai, có ông nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến; bị cáo Văn T.A ra đầu thú, được Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội tặng giấy khen trong phòng chống tội phạm, có bác ruột là liệt sĩ; bị cáo Trần Thị L.A ra đầu thú, có ông bà ngoại được tặng thưởng huân huy chương. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Văn T.A, Trần Thị L.A được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Hồng Q được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo đều thực hiện hành vi bởi lỗi cố ý. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội của các bị cáo là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Bị cáo Văn T.A đang phải chấp hành bản án của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Do vậy, hình phạt của bản án này cần tổng hợp với hình phạt của bản án số 432/2021/HS-PT ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thành hình phạt chung bị cáo phải chấp hành theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không có mục đích trục lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về tình tiết khác của vụ án:

- Đối với Phạm Tuấn A là người có số tài khoản mà Vũ Thị Thùy T cung cấp để Văn T.A chuyển khoản số tiền 29.000.000đ mua ma túy. Tuy nhiên, đến nay Phạm Tuấn A không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của Vũ Thị Thùy T thì không có tài liệu nào khác do đó chưa xác định được người bán ma túy cho T. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với nguồn gốc số ma túy Nguyễn Thị Hồng Q mua của người thanh niên ở trước quán karaoke Lasvegas, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với Công an thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng này. Ngoài lời khai của Q không còn tài liệu nào khác. Đối với người đàn ông tên Đ có số thuê bao 0888884444 đã cung cấp số điện thoại của người thanh niên bán ma túy cho Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh xác định số thuê bao trên đăng ký tên chị Trần Thị Phương Linh, trú tại số 4 ngõ 95 Hoàng Ngân, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, tuy nhiên không xác định được người có tên Trần Thị Phương Linh tại địa phương. Do vậy, chưa có căn cứ để giải quyết trong vụ án này.

- Đối với Công ty Cổ phần liên doanh Vạn Hải Lý - Happytex, khách sạn Vạn Hải Lý do ông Lê Văn T là người đại diện theo pháp luật, quá trình điều tra xác định ngày 14/8/2022 đã không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý, giám sát, kiểm tra các hoạt động kinh doanh tại khách sạn để các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Chủ tịch UBND thành phố Phủ Lý đã ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 30.000.000 đồng, tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự 06 tháng là phù hợp pháp luật.

- Đối với cơ sở kinh doanh karaoke Lasvegas - Thanh An do anh Trần Văn H làm quản lý, quá trình điều tra xác định ngày 14/8/2022 đã không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý, giám sát, kiểm tra các hoạt động kinh doanh tại khách sạn để các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Giám đốc Công an tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 37.500.000 đồng, tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự 06 tháng là phù hợp pháp luật.

- Đối với Nguyễn Văn H chỉ tham gia sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thực hiện các hành vi nào khác. Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định sử phạt hành chính 1.500.000 đồng đối với Hà về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

- Đối với Đỗ Hoàng H là nhân viên lễ tân khách sạn Vạn Hải Lý, quá trình điều tra xác định ngày 13/8/2022, H cho các bị cáo thuê phòng 903, 905 nhưng không biết các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xem xét xử lý về hình sự đối với Đỗ Hoàng H là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng và các tài sản đã thu giữ:

- Đối với toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 bật lửa ga màu vàng, 01 thẻ cứng màu đen, 07 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để sử dụng trái phép chất ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ; 01 chiếc loa nhãn hiệu JBL màu đen; 01 đèn nháy màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Hồng Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Vũ Thị Thùy T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh của Nguyễn Thị Thúy H là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; 01 Laptop nhãn hiệu Asus màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Tuấn Đ là tài sản, giấy tờ của Đ không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho Đ là phù hợp pháp luật. Tuy nhiên, cần giao căn cước công dân cho Cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo Đ chấp hành án tạm giữ để trả lại bị cáo khi bị cáo Đ chấp hành xong hình phạt tù.

- Đối với 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Cẩm N, quá trình điều tra xác định là giấy tờ hợp pháp của chị N cần trả lại cho chị Lê Thị Cẩm N.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ); điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đối với Q); khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đối với H, Q, T.A); điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (đối với T.A, Đ); khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự (đối với T.A).

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự (đối với Trần Thị L.A).

Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ, Trần Thị L.A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt các bị cáo:

- Vũ Tuấn Đ 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2022.

- Văn T.A 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 432/2021/HS-PT ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Buộc bị cáo Văn T.A phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 01 năm 2023.

- Nguyễn Thị Hồng Q 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2022, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2022 đến ngày 05/9/2022.

- Nguyễn Thị Thúy H 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2022.

- Vũ Thị Thùy T 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 16/8/2022 đến ngày 25/8/2022.

- Trần Thị L.A 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2022.

[3] Xử lý vật chứng và các tài sản đã thu giữ:

- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp được niêm phong mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KT01” số 427/KTHS; 02 phong bì được niêm phong mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KT01, KT02” số 427/KTHS (trừ 02 ống tẩu cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ) và 01 bật lửa ga màu vàng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 02 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ được đựng trong 01 hộp được niêm phong mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KT01” số 427/KTHS và 02 phong bì được niêm phong mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả KT01, KT02” số 427/KTHS; 01 chiếc loa nhãn hiệu JBL màu đen; 01 đèn nháy màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Hồng Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng của Vũ Thị Thùy T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh của Nguyễn Thị Thúy H.

- Trả lại Vũ Tuấn Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng; 01 laptop màu đen nhãn hiệu Asus và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Tuấn Đ, song cần giao căn cước công dân cho Cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo Đ chấp hành án tạm giữ để trả lại bị cáo khi bị cáo Đ chấp hành xong hình phạt tù.

- Trả lại chị Lê Thị Cẩm N 01 giấy phép lái xe mang tên Lê Thị Cẩm N.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 13 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, Nguyễn Thị Hồng Q, Vũ Thị Thùy T, Văn T.A, Vũ Tuấn Đ, Trần Thị L.A mỗi bị cáo phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ