- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn H ( tên gọi khác: L) phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/ 2017/HSST Ngày: 02/03/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Quang Vũ và ông Nguyễn Văn Vỵ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (số 60-đường Nguyễn Huệ-Thành phố Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2017, đối với bị cáo:
Bị cáo Hồ Văn H (tên gọi khác: L). Sinh ngày 20/7/1990, tại tỉnh Quảng Bình; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 25 đường T, phường L, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; Ch ở hiện nay: Lô 161 Khu quy hoạch I, phường I, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Con của ông Hồ Văn C, sinh năm 1962 và bà Trương Thị G (đã chết); Gia đình có 3 anh em ruột, bị cáo là con đầu; Chưa có vợ con;Tiền án: có 01 tiền án, vào ngày 29/12/2014 đã bị kết án 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 346/2014/HSST ngày 29/12/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích; Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/11/2016 và chuyển tạm giam từ ngày 17/11/2016 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại Anh Phạm Công T, sinh năm: 1995 ; Địa chỉ: 1/10 Kiệt 23 đường N, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị Thanh A. Địa chỉ: 10/1 kiệt 23 đường N, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Ông Nguyễn B. Địa chỉ: 10/5 kiệt 23 đường N, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Hồ Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 00 giờ 05’ ngày 14/11/2016, Sau khi chơi game về Hồ Văn H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài. H đi bộ một mình quanh các con đường trong nội thành thành phố Huế tìm nhà nào sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà trọ ở số 1/10 Kiệt 23 đường N, phường A, thành phố Huế, H phát hiện thấy anh Phạm Công T ra khỏi phòng trọ để đi vệ sinh, không khóa cửa, H liền lén lút vào phòng lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu VegaR8 để trên giường, rồi tẩu thoát ra ngoài. Anh T nghe tiếng động ở trong phòng của mình liền quay lại thì phát hiện H từ trong phòng mình đi ra nên hô hoán “ trộm, trộm”. Thấy vậy, H vứt điện điện thoại xuống nền nhà làm vỡ màn hình cảm ứng và bỏ chạy nhưng bị anh T bắt giữ rồi báo vụ việc cho cơ quan công an phường A đến lập biên bản phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữa là 01 chiếc điện thoại di động hiệu VegaR8.
Ngày 15/11/2016 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định 01 chiếc điện thoại di động hiệu VegaR8 có giá trị 500.000 đồng.
Ngày 18/11/2016 Cơ quan điều tra công an thành phố Huế ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho người bị hại. Anh Phạm Công T đã nhận lại tài sản và không yêu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Hồ Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 41/QĐ-KSĐT ngày 18/01/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội:Trộm cắp tài sản; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Hồ Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù;Về trách nhiệm dân sự, người bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét;Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY
Tại phiên tòa bị cáo Hồ Văn H đã khai nhận tội. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp khách quan với lời tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 05’ ngày 14/11/2016, tại số 01/10 Kiệt 23 đường N, phường A- thành phố Huế, bị cáo Hồ Văn H đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Công T gồm 01 chiếc điện thoại di động hiệu VegaR8, có trị giá là 500.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Xét thấy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Hồ Văn H đã thực hiện, tuy giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nên đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội này được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự, là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vẫn nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tham lam, vụ lợi nên đã lao vào con đường tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm để giáo dục các bị cáo và ngăn ngừa chung.
Qua xem xét về tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, thì thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất cơ hội. Về nhân thân, thì bị cáo có nhân thân xấu, vào năm 2005, 2008, 2012 đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản; Đến ngày 29/12/2014 bị kết án 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 346/2014/HSST ngày 29/12/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích.
Xét khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hồ Văn H không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tuy bị cáo tái phạm nhưng đây chỉ là yếu tố định tội. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “ Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Mặt khác, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Vì vậy, nghĩ cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần, khi quyết định hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Phạm Công T khai đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn H ( tên gọi khác: L) phạm tội: Trộm cắp tài sản.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Hồ Văn H 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, là ngày 14/11/2016.
2.Về án phí: Bị cáo Hồ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT Huế; - Sở Tư pháp tỉnh TTHuế; - CA thành phố Huế, PV27; - VKSND thành phố Huế; - Bị cáo; - Người bị hại; - Thi hành án dân sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Mai Văn Phú |