- Tranh chấp gì? án hình sự — "TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 57/2017/HSST Ngày : 24/10/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU- TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Sơn
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Đức Vĩ
2. Bà Hồ Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Lệ Giang, Thư ký Toà án nhân dân huyện QL, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND huyện QL tham gia phiên toà:
Bà Vũ Thị Ngân - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 10 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện QL, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2017/HSST ngày 02/10/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn M
Sinh ngày: 20/12/1974
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: xóm 11, xã LS, huyện AS, tỉnh Nghệ An.
Trình độ văn hoá: 03/12;
Nghề nghiệp: Làm ruộng
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không
Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Trần Thị T1 (đã chết)
Vợ: Cao Thị T2, sinh năm 1977 và có 03 con
Tiền án, tiền sự : Không.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2017 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1/ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1965 – có mặt
Địa chỉ: Xóm 16 - TA, xã QC, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
2/ Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1967 - vắng mặt
Địa chỉ: Xóm TA, xã QC, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Cao Thị T2, sinh năm 1977 – có mặt
Địa chỉ: Xóm 11, xã LS, huyện AS, tỉnh Nghệ An
2/ Ông Cao Xuân B, sinh năm 1931 – vắng mặt
Địa chỉ: Xóm 11, xã LS, huyện AS, tỉnh Nghệ An
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Văn M bị VKSND huyện QL truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Vào khoảng 05 giờ sáng ngày 28/07/2017, Nguyễn Văn M đi xe máy nhãn hiệu Honda -Wave RSX màu đỏ-đen, biển số 37M1- 098.58 một mình từ nhà mình xuống nhà anh trai ruột là Nguyễn Văn N ở xóm 16 - Tuần A, xã Quỳnh Châu, huyện QL, tỉnh Nghệ An để chơi. Khi đến nhà anh Nam khoảng 7 giờ sáng, M nhìn thấy cửa cổng nhà anh N mở nên đi xe máy vào dựng xe ở trong sân, nhìn thấy cửa chính khép hờ không có ai ở nhà. Lúc này M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. M đi vào phòng ngủ nhà anh N thì nhìn thấy một chiếc két sắt màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật để ngay mép bên trái cửa buồng, sát bên giường ngủ. M kéo rê chiếc két sắt ra ngoài thềm nhà, rồi bê chiếc két sắt lên yên sau xe máy để nằm ngang và buộc dây giun chặt lại rồi lấy chiếc áo mưa màu xanh đen của mình để phủ che lên chiếc két sắt. M chở chiếc két sắt về nhà bố vợ là ông Cao Xuân B ở xóm 6, xã LS, huyện AS, nhà ông B không có ai ở nhà. M đem chiếc két sắt ra phía sau vườn nhà ông B rồi đi vào nhà ông B lấy 01 chiếc thuổng cán gỗ dài 135cm, lưỡi bằng kim loại thọc vào đáy chiếc két thì phần kim loại ở đáy két sắt bị rách thì thấy cát và 04 cục tiền mệnh giá các loại phía trong chảy ra. M cầm tiền đếm được 36.925.000đ (Ba sáu triệu chín trăm hai lăm nghìn đồng). Nghĩ trong két đã hết tiền nên M không đục tiếp nữa mà bê chiếc két sắt ném bên mép bờ sông Lam phía sau nhà ông Cao Xuân B. Sau đó, M đưa tiền vào nhà ông B cất dấu. Đến 15 giờ 35 phút cùng ngày ông Nguyễn Văn V; trú tại thôn 7, xã LS, huyện AS phát hiện thấy chiếc két sắt và báo cho công an xã LS, huyện AS biết sự việc và Công an xã LS đã tiến hành niêm phong chiếc két. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày nhận thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn M đã đến công an xã LS, huyện AS để xin đầu thú và giao nộp lại số tiền đã lấy trộm được.
Ngày 30/07/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện QL đã tiến hành mở niêm phong kiểm tra tài sản bên trong két sắt ở ngăn phía trên có khóa thì thấy có những tài sản sau:
- Tiền Việt Nam là 51.800.000 đồng
- Tiền YEN nhật gồm 08 tờ, mỗi tờ mệnh giá 10.000 Yen
- 01 sợi dây chuyền làm bằng kim loại màu vàng, trên sợi dây chuyền được gắn thêm 01 mặt đá màu xanh đậm gắn với kim loại màu vàng.
- 04 chiếc nhẫn loại tròn trơn được làm bằng kim loại màu vàng, bên trong của nhẫn có in chìm chữ Tâm Đạt.
- 01 chiếc nhẫn tròn nam giới mặt vuông được làm bằng kim loại màu vàng, mặt ngoài có in chữ HÙNG.
- 01 chiếc nhẫn tròn nam giới mặt vuông được làm bằng kim loại màu vàng, mặt ngoài có in chữ TÂM.
- 05 sổ tiết kiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- 04 chiếc hộp nhựa hình tròn màu đỏ-cam
Ngày 01/8/2017, Cơ quan CSĐT công an huyện QL đã tiến hành trưng cầu giám định và xác định số dây chuyền vàng và nhẫn vàng làm bằng kim loại màu vàng là vàng thật, do công ty vàng bạc Đức Tài-Tâm Đạt chế tác và có tổng trọng lượng là 14 chỉ.
Ngày 02/8/2017, Cơ quan CSĐT công an huyện QL đã tiến hành trưng cầu giám định và xác định 8 tờ tiền loại 10.000 YEN là đồng Yen Nhật thật.
Ngày 04/8/2017, Hội đồng định giá tài sản của UBND huyện QL đã tiến hành định giá tài sản và kết luận: 14 chỉ vàng có giá trị 48.020.000đồng; 08 tờ tiền do ngân hàng nhà nước Nhật Bản phát hành (Yen), mỗi tờ có mệnh giá 10.000Yen. Tổng cộng 80.000Yen có giá trị quy đổi là 16.149.600đồng; 01 chiếc két sắt có giá trị 500.000đồng. Tổng cộng: 64.669.600đồng (sáu mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm đồng)(BL51)
Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn M đã trộm cắp của anh Nguyễn Văn Nam trong ngày 28/07/2017 là: 36.925.000đồng + 51.800.000đồng + 64.669.600đồng = 153.394.600đồng. (Một trăm năm ba triệu ba trăm chín tư nghìn sáu trăm đồng).
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 30/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện QL đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện VKS giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Đề nghị áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn M mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản gì lớn.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS
Trả lại cho chị Cao Thị T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave màu đỏ đen BKS 37M1-098.58;
Trả lại cho ông Cao Xuân B 01 cái thuổng dài 135cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen hình vòng cung dài 37cm cán bằng gỗ.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm 01 mũ bảo hiểm màu trắng, 01 áo mưa choàng màu đen, 01áo màu xanh có chữ bên túi áo phải là Hoàng Công Thiện, 01 sợi dây giun bằng cao su màu đen dài 2,5m bị đứt đã buộc nối vào nhau.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Văn M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh N với tổng số tiền 153.394.600 đồng. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Xét vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư, bị cáo thực hiện hành vi vào ban ngày một cách ngang nhiên thể hiện sự xem thường pháp luật. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Nhưng xét bị cáo khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú và bồi thường toàn bộ thiệt hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS
Trả lại cho chị Cao Thị T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave màu đỏ đen BKS 37M1-098.58;
Trả lại cho ông Cao Xuân B 01 cái thuổng dài 135cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen hình vòng cung dài 37cm cán bằng gỗ.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng gồm 01 mũ bảo hiểm màu trắng, 01 áo mưa choàng màu đen, 01 áo màu xanh có chữ bên túi áo phải là Hoàng Công Thiện, 01 sợi dây giun bằng cao su màu đen dài 2,5m bị đứt đã buộc nối vào nhau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 42 (Bốn hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/7/2017.
Về vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS
Trả lại cho chị Cao Thị T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave màu đỏ đen BKS 37M1-098.58; trả lại cho ông Cao Xuân B 01 cái thuổng dài 135cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen hình vòng cung dài 37cm cán bằng gỗ.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng gồm 01 mũ bảo hiểm màu trắng, 01 áo mưa choàng màu đen, 01 áo màu xanh có chữ bên túi áo phải là Hoàng Công Thiện, 01 sợi dây giun bằng cao su màu đen dài 2,5m bị đứt đã buộc nối vào nhau. (Các vật chứng có đặc điểm được phản ánh như tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện QL và Chi cục thi hành án dân sự huyện QL ngày 29/9/2017)
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo, người bị hại anh N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Cao Thị T2 có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại chị T3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông B vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận; - VKSND H. QL; - Công an H. QL; - THADS H. QL; - Bị cáo; người bị hai; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS – VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Anh Sơn |