vanban.org

Bản án 57/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 07/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 57/2017/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 07-11-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Thông

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông T n Đình Th ng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Bắc Bình, xét xử s thẩm hình sự vụ án thụ lý s 59/2017/ HSST, ngày 12 tháng 10 năm 2017 đ i với bị cáo:

-Họ và tên: Qua Hu nh Anh Th, sinh năm 1995.

HKTT: thôn B, x H, huyện BB, t nh Bình Thuận.

N i cư trú: thôn B, x H, huyện BB,t nh Bình Thuận

Trình độ văn h a:02/12;Nghề nghiệp:không; Con ông Qua Đình T,sinh năm 1974 và con bà Hu nh Thị H ng V, sinh năm 1976;Tiền sự: không;Tiền án: không

Bị cáo bị bắt ngày 28/07/2017(c mặt tại phiên tòa)

-Người bị hại: 1 anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1963, (c mặt)

Trú tại: Thôn H, Xã Th, huyện BB, t nh Bình Thuận.

2/ anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1969 (vắng mặt

Trú tai: khu ph X1, thị trấn CL, huyện BB, t nh Bình Thuận

-Người c quyền l i ngh a vụ liên quan: Anh Võ Văn Th, sinh năm 1979

Trú tại: Khu ph X , thị trấn CL, huyện BB, t nh Bình Thuận(vắng mặt

NHẬN THẤY:

Bị cáo Qua Hu nh Anh Th, sinh năm 1995, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy t về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 28/7/2017, Qua Hu nh Anh Th đi đến cửa hàng đá Hoa Cư ng Văn Th thuộc thôn Bình Hiếu, x H, huyện B B tìm tài sản trộm cắp để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Qua Hu nh Anh Th nhìn thấy xe mô tô biển s 86H5-0211, nh n hiệu Jamoto, màu đỏ của Nguyễn Văn Th đang dựng trước cửa hàng c gắn sẵn chìa khóa trên xe, Qua Hu nh Anh Th liền đi đến dắt xe mô tô của Th đi ra đường qu c lộ 1A mở kh a công tắc xe, đạp nổ máy r i điều khiển xe chạy đến thôn H ng Lâm, xã Th, huyện BB thì nhìn thấy xe mô tô biển s 86B2-042.05, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng đen của Nguyễn Văn L đang dựng trước nhà Biền Đức D không có người trông coi. Qua Hu nh Anh Th liền dựng xe mô tô biển s 86H5-0211 bên lề đường r i đi bộ vào trước nhà D dắt xe mô tô 86B2-042.05 của L đi ra đường hướng về Ủy ban nhân dân xã Th. Qua Hu nh Anh Th dắt xe mô tô 86B2-042.05 đi khoảng 100 mét thì bị D và L phát hiện, bắt giữ Qua Hu nh Anh Th giao cho công an xã Th lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ xe mô tô biển s 86B2-042.05 và xe mô tô biển s 86H5-0211 chuyển cho C quan cảnh sát điều tra Công an huyện BB xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận định giá tài sản s 44/2017 HĐĐG-TTHS ngày 02/8/2017 và bản kết luận định giá tài sản s 46 2017 HĐĐG-TTHS ngày 06/8/2017 của Hội đ ng định giá tài sản trong t tụng hình sự huyện BB, kết luận:

Xe mô tô biển s 86B2-042.05, nh n hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng đen, s máy 5C63-474657, s khung C630BY474606, mua năm 2011 c đ n giá 17.500.000 đ ng, s lư ng 01 chiếc, tỷ lệ sử dụng còn lại là 40%, thành tiền là 7.000.000 đ ng.

Xe mô tô biển s 86H5-0211, nh n hiệu Jamoto, màu đỏ, s máy D1P52FMH-3*5A1G5612*, s khung RPDWCH3PD5A0G5612, mua năm 2006 c đ n giá 15.000.000 đ ng, s lư ng 01 chiếc, tỷ lệ sử dụng còn lại là 10%, thành tiền là 1.500.000 đ ng.

Sau khi định giá, C quan điều tra đ trả lại xe mô tô biển s 86B2-042.05, nh n hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng đen và xe mô biển s 86H5-0211, nh n hiệu Jamoto, màu đỏ cho chủ sở hữu theo quy định.Bị hại Nguyễn Văn Th và Nguyễn Văn L không c yêu cầu b i thường gì thêm nên không xem xét giải quyết phần b i thường dân sự.

Tại bản cáo trạng s 56 QĐ KSĐT-VKS–HS ngày 11/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đ truy t bị cáo Qua Hu nh Anh Th về tội “ Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,bị hại.

X T THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Qua Hu nh Anh Th khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 11 giờ 05 phút ngày 28/7/2017, bị cáo Qua Hu nh Anh Th đi đến cửa hàng đá hoa cư ng Văn Th thuộc thôn H, x H, huyện BB nhìn thấy xe mô tô biển s 86H5-0211, nh n hiệu Jamoto, màu đỏ của Nguyễn Văn Th đang dựng trước cửa hàng c gắn sẵn chìa kh a trên xe, Qua Hu nh Anh Th liền đi đến dắt xe mô tô của Võ Văn Th đi ra đường qu c lộ 1A mở kh a công tắc xe, đạp nổ máy r i điều khiển xe chạy đến thôn H, xã Th, huyện BB. Đến đoạn nhà anh Biền Đức D, bị cáo nhìn thấy xe mô tô biển s 86B2-042.05, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu trắng đen của Nguyễn Văn L đang dựng trước nhà Biền Đức D không có người trông coi nên bị cáo Th liền dựng xe mô tô biển s 86H5-0211 bên lề đường r i đi bộ vào trước nhà D dắt xe mô tô 86B2-042.05 của L đi ra đường hướng về Ủy ban nhân dân xã Th, đi khoảng 100 mét thì bị D và L phát hiện, bắt giữ Th giao cho Công an xã Th lập biên bản phạm tội quả tang.

Giá trị tài sản Qua Hu nh Anh Th chiếm đoạt của anh Võ Văn Th và anh Nguyễn Văn L là 8.500.000đ.(Theo kết luận định giá s 44/2017 HĐĐG-TTHS ngày 02/8/2017.

Lời khai nhận tội của bị cáo Qua Hu nh Anh Th ph h p lời khai của bị hại, kết luận định giá và các tài liệu có trong h s vụ án. Hội đ ng xét xử c đủ c sở kết luận bị cáo Qua Hu nh Anh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản đư c qui định tại khoản 1 điều 138 BLHS.

Bị cáo l i dụng s hở của các bị hại để tài sản không người trông coi, bị cáo lén lút dắt đi, mục đ ch bán tiêu xài và mua ma túy sử dụng.Bị cáo nhận thức tài sản của người khác đư c pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo v n c tình thực hiện tội phạm.

Tội phạm của bị cáo tuy t nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo nguy hiểm cho x hội, liên tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều người, gây hoang mang lo lắng cho người dân tại địa phư ng n i xảy ra vụ án.Vì vậy,Hội đ ng xét xử cần xử bị cáo một mức án nghiêm khắc nh m cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân s ng c ch cho x hội đ ng thời răn đe các đ i tư ng c ý đ phạm tội tư ng tự.

Song xét tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường h p t nghiêm trọng, bị cáo chưa c tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự đư c qui định tại điểm h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS nên Hội đ ng xét xử sẽ xem xét giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo khi lư ng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Văn L và Võ Văn Th đ nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát phân t ch t nh chất, hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 BLHS đề nghị mức hình phạt đ i với bị cáo Qua Hu nh Anh Th từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ;Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do bị hại không yêu cầu.

Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát c căn cứ ph h p ngh nên chấp nhận.

Về án ph : Bị cáo Qua Hu nh Anh Th phải chịu án ph theo qui định tại Điều 99 Bộ luật t tụng hình sự và theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu,miễn, giảm,thu,nộp,quản lý và sử dụng án ph ,lệ ph Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUY T Đ NH:

Tuyên ố: Bị cáo Qua Hu nh Anh Th phạm tội “Trộm cắp tài sản .

Áp d ng: Khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự;

X phạt:Bị cáo Qua Hu nh Anh Th 09 (Ch n tháng t .Thời hạn t đư c t nh từ ngày bị bắt 28/7/2017.

Áp d ng: Điều 99 Bộ luật t tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án;

X uộc: Bị cáo Qua Hu nh Anh Th phải nộp 200.000đ án ph HSST

Án xử công khai s thẩm c mặt bị cáo, bị hại c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người c quyền l i ngh a vụ liên quan vắng mặt c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ