- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị P và ĐP - Đ 255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2025/HS-ST Ngày 28-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng.
ông Nguyễn Đại Đồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Gia Ánh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thị P, sinh năm 1982 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: thôn Hoành 4, xã Phúc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Nhân (đã chết) và bà Phạm Thị Đông, sinh năm 1954; chồng là Nguyễn Văn Hoàn, sinh năm 1982; có 02 con (con lớn sinh năm 2006 và con nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 135/2017/HS-ST ngày 01/11/2017, Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2020, nộp án phí ngày 26/02/2018 (đã xoá án tích).
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 cho đến nay. Có mặt.
2. Vũ Thanh T, sinh năm 1991 tại xã Đại Xuyên, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn Khả Liễu, xã Đại Xuyên, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân Thiện (đã chết) và bà Vũ Thị Tâm, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án:
+ Bản án số 60/2019/HSST ngày 11/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội xử phạt 10 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2020, chưa nộp án phí, chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
- Bản án số 17/2012/HSST ngày 05/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 21/5/2014, nộp án phí ngày 18/01/2013 (dã xóa án tích).
Ngày 09/8/2016, Công an huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 132/QĐ-XPHC, xử phạt mức phạt 1.000.000 đồng, về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy", đã nộp phạt ngày 09/8/2016;
- Bản án số 01/2018/HSST ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong ngày 21/10/2018, nộp án phí ngày 28/9/2022 (đã xóa án tích).
- Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 16/01/2025 về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của UBND xã Phúc Tiến
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2025 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 16/07/2025, Phạm Thị P - Sinh năm 1982 đang ở nhà tại: thôn Hoành 4, xã Phúc Sơn, thành phố Hà Nội, sử dụng điện thoại di động gọi cho Vũ Thanh T - Sinh năm 1991; HKTT: thôn Khả Liễu, xã Đại Xuyên, thành phố Hà Nội, có quan hệ là bạn mới quen nhau trước đó vài ngày tại một cơ sở cai nghiện tư nhân ở tỉnh Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ, không nhớ rõ địa điểm), Phương gọi cho Tùng nhờ Tùng mua hộ thuốc cai nghiện đề mang về cho Phương tự cai nghiện ở nhà; Phương còn nói với Tùng là “còn hai cái chơi nốt rồi cai, đằng nào chả uống thuốc” tức Phương bảo Tùng về nhà của Phương chơi và sử dụng ma túy Heroine thì Tùng đồng ý. Sau đó, Tùng liên hệ với số điện thoại 0902633074 của một người tên “Thủy” (Tùng xin được số điện thoại khi đi cai nghiện trước đó), Tùng hỏi và mua được thuốc cai nghiện gồm vỉ thuốc có chữ SUBUTEX có 03 viên nén và 02 vỉ thuốc có ghi chữ SEDUXEN 10 viên nén/vỉ với số tiền 1.200.000 đồng, rồi Tùng đi xe buýt đi đến nhà Phương, th đường đi Tùng vào một hiệu thuốc không nhớ rõ tên hiệu thuốc và địa điểm mua 02 xilanh, 01 lọ nước cất. Đến 14 giờ cùng ngày, Tùng đến và đi vào trong nhà Phương, bỏ thuốc cai nghiện ra bàn còn Phương ra đóng tất các cửa nhà rồi vào phòng ngủ lấy ra từ trong túi quần đùi màu vàng bên trái của mình ra 02 (hai) gói Heroine được bọc bằng túi díp, đặt ra bàn và bảo Tùng “Em chơi được bao nhiêu thì em lấy đi còn bao nhiêu thì chị chơi”. Tùng lấy 01 (một) gói Heroine và ngồi quay lưng lại với Phương, Tùng bỏ ma túy vào xilanh, bẻ ống nước cất dùng xilanh hút nước cất vào xilanh để sử dụng, đang sử dụng thì kim tiêm bị tắc, Tùng chuyển dung dịch sang một xilanh khác để tiếp tục sử dụng ma túy tiêm vào cơ thể. Phương ngồi quay lưng lại với Tùng lấy 01 (một) gói Heroine rồi bỏ ra 01 tờ giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng cho khói bay lên và sử dụng hít vào cơ thể qua đường hô hấp. Sau khi cả hai sử dụng ma túy xong thì Tùng hướng dẫn Phương sử dụng thuốc cai nghiện mà Tùng vừa mua. Sau đó, Tùng đi về, một lúc sau Phương gọi cho Tùng hỏi về chưa thì Tùng bảo “Em chưa bắt được xe” nên Phương bảo với Tùng quay lại nhà Phương nghỉ để mai về, Tùng đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Công an xã Phúc Sơn, thành phố Hà Nội tiến hành tuần tra tại khu vực thôn Hoành 4, xã Phúc Sơn, thành phố Hà Nội thì anh Nguyễn Văn Hải - Sinh năm 1976; trú tại: thôn Hoành 4, xã Phúc Sơn, TP Hà Nội báo tại nhà của anh có người lạ ở trong nhà. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì Vũ Thanh T và Phạm Thị P khai nhận vừa cùng nhau sử dụng ma túy Heroine. Lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ và lập biên bản niêm phong vật chứng tại thùng rác trong phòng ngủ của Phương có 02 xilanh nhựa đã qua sử dụng (Mẫu 01), 01 ống thủy tinh đã qua sử dụng và thu giữ tại mặt tủ có 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi nilon chứa 05 túi nilon nhỏ chứa chất bột màu trắng, 01 vỉ thuốc có chữ SUBUTEX có 02 viên nén và 02 vỉ thuốc có ghi chữ SEDUXEN mỗi vì 10 viên nén (Mẫu 02). Ngoài ra còn tạm giữ:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, số Seri: KNKFPFZXNNJFTU8, dã qua sử dụng, số sim: 0988620282 của Phạm Thị P.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số Seri: C39V50PCJCM4, đã qua sử dụng, có số điện thoại: 0334692695 của Vũ Thanh T.
Cơ quan điều tra tiến hành Test nhanh xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của Phạm Thị P và Vũ Thanh T kết quả đều dương tính với ma túy MOP (Morphine). Ngày 18/7/2025, Cơ quan CSĐT ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thị P và Vũ Thanh T.
Cùng ngày 18/7/2025, Cơ quan CSĐT thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp SỐ A2387/LKX-VPCQCSĐT, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị P. Kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.
Ngoài ra, quá trình đấu tranh Phương khai vào ngày 14/7/2025, Phương có đến khu vực huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) gặp và xin được 01 viên thuốc cai nghiện có chứa Methadone của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ ở đâu, về sử dụng một mình hết.
Quá trình điều tra, xác định Vũ Thanh T đã hoàn thành việc cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 5 – Hà Nội ngày 15/10/2024 và hiện đang trong diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú với thời hạn 01 năm kể từ ngày 16/01/2025 đến 16/01/2026, theo Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 16/01/2025 của UBND xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội (nay là xã Đại Xuyên, thành phố Hà Nội).
Ngày 17/7/2025 Cơ quan CSĐT ra Quyết định Trưng cầu giám định số A11931/QĐ-VPCQCSĐT đối với các vật chứng thu giữ và mẫu nước tiểu thu giữ của Phạm Thị P và Vũ Thanh T. Tại Kết luận trưng cầu giám định số 4206/LL-KTHS ngày 26/07/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
“- Chất bột màu trắng bên trong 05 túi ni lông đều có ma túy loại Bupreorphine, tổng khối lượng: 0,381 gam;
- 02 viên nén trong vvỉ thuốc có chữ SUBUTEX đều có ma túy loại Bupreorphine, tổng khối lượng: 0,789 gam;
- 20 viên nén trong vỉ thuốc có chữ SUDUXEN đều có ma túy loại Diazepam, tổng khối lượng: 3,656 gam;
- 02 xi lanh đều có dính ma túy loại Heroine;
- 01 vỏ ống thủy tinh không dính chất ma túy;
- Trong mẫu nước tiểu của Vũ Thanh T gửi giám định ngày 17/7/2025 có tìm thấy ma túy loại Morphine;
- Trong mẫu nước tiểu của Phạm Thị P gửi giám định ngày 17/7/2025 có tìm thấy ma túy loại Morphine và ma túy loại Methadone, có chất EDDP (EDDP chất chuyển hóa của Methadone trong cơ thể người):
Quá trình điều tra Phương và Tùng đều khai nhận các điện thoại bị tạm giữ là của Phương và Tùng, cả hai đều sử dụng điện thoại này liên lạc trao đổi việc mua thuốc cai nghiện và rủ nhau cùng sử dụng ma tuý loại Heroin.
Cáo trạng số 21/CT-VKS-KV12 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội truy tố Phạm Thị P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Vũ Thanh T về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do có mối quan hệ bạn bè mới quen trước đó, ngày 16/7/2025 do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Phương gọi điện thoại cho Tùng nhờ mua thuốc cai nghiện để mang về cho Phương tự cai nghiện ở nhà và Phương bảo Tùng về nhà Phương chơi và sử dụng ma tuý do Phương còn 2 gói ma tuý Heroin nên chơi nốt rồi uống thuốc tự cai nghiện. Tùng đồng ý và liên hệ một người tên Thuỷ số điện thoại 0902633074 mua được thuốc cai nghiện. Đến 14 giờ cùng ngày Tùng đến nhà Phương, bỏ thuốc cai nghiện ra bàn, Phương đóng tất cả các cửa nhà lại và lấy từ phòng ngủ ra 02 gói Heroin được bọc bằng túi díp, đặt ra bàn bào Tùng sử dụng được bao nhiêu thì sử dụng, Tùng lấy 01 gói Heroin rồi xi lanh tiêm ma túy vào cơ thể để sử dụng, còn Phương sử dụng giấy bạc để đựng ma túy, dùng bật lửa hơ nóng cho khói bay lên và sử dụng hít vào cơ thể qua đường hô hấp. Sau đó, Phương sử dụng số ma tuý còn lại trên bàn. Đến 23 giờ cùng ngày, thì bị Công an xã Phúc Sơn kiểm tra, phát hiện và thu giữ chất bột bên trong 05 túi ni lông, 02 viên nén trong vỉ thuốc có chữ SUBUTEX, 20 viên nén trong vỉ thuốc có chữ SEDUXEN và 02 xi lanh.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức hình phạt đối với:
- Bị cáo Phạm Thị P từ 42 -48 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2025.
- Bị cáo Vũ Thanh T từ 30 - 36 tháng tù về tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu huỷ: 02 phong bì đã được niêm phong dán kín của Phòng PC09 – CATP Hà Nội có chữ ký của giám định viên, chữ ký, họ tên của cán bộ Công an xã và đối tượng Vũ Thanh T, bên trong có: 01 phong bì có 02 xilanh đã qua sử dụng, 01 ống thủy tinh. 01 phong bì có chất bột màu trắng trong 05 túi nilong; 02 viên nén có ghi chữ SUBUTEX; 02 vỉ thuốc gồm 20 viên nén có ghi chữ SEDUXEN.
Tịch thu sung quỹ Nhà Nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, số Seri: KNKFPFZXNNJFTU8, đã qua sử dụng, số sim: 0988620282 của Phạm Thị P;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số Seri: C39V50PCJCM4, đã qua sử dụng, có số điện thoại: 0334692695 của Vũ Thanh T;
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên toà: các bị cáo Phạm Thị P, Vũ Thanh T đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và nhất trí với nội dung, điều luật tội danh như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Về hình phạt, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Thị P và Vũ Thanh T đã thành khẩn khai nhận do là đối tượng nghiện ma tuý, nên ngày 16/7/2025 do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Phương đã sử dụng nhà ở của mình, rủ Tùng và cung cấp ma tuý loại Heroin cho Tùng là người đang trong diện quản lý sau cai nghiện của UBND xã Đại Xuyên, TP Hà Nội cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý vào chiều ngày 16/7/2025. Hành vi này của các bị cáo bị Công an xã Phúc Sơn, TP Hà Nội phát hiện vào khoảng 23 giờ cùng ngày. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ vật chứng là chất bột màu trắng bên trong 05 túi ni lông, 02 viên nén trong vì thuốc có chữ SUBUTEX đều có ma túy loại Bupreorphine, 20 viên nén trong vỉ thuốc có chữ SEDUXEN đều có ma túy loại Diazepam, 02 xi lanh đều có dính ma túy loại Heroine và kết luận giám định xác định trong mẫu nước tiểu thu giữ từ cơ thể Phạm Thị P, Vũ Thanh T đều có tìm thấy ma tuý loại Morphine và ma túy loại Methadone, có chất EDDP (EDDP là chất chuyển hóa của Methadone trong cơ thể người). Các bị cáo đều nhất trí và không có ý kiến gì về kết luận trưng cầu giám định và truy tố của Viện kiểm sát. Xét thấy, các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “ Tội sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự theo Cáo trạng ruy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội là đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tổ chức, sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị an, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Xét hành vi của các bị cáo:
Bản thân các bị cáo biết rất rõ ma tuý là chất gây nghiện ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sức khoẻ, kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự duy trì phát triển lành mạnh nòi giống, đã đi cai nghiện ma tuý nhưng vẫn không từ bỏ được ma tuý. Ma tuý bị Nhà nước nghiêm cấm lưu hành và sử dụng. Nhưng vì muốn thoả mãn cơn nghiện, các bị cáo bất chấp coi thường các tác hại của ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự của xã hội là thể hiện sự coi thường pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Do đó, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã Hội.
Xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Phương không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo Tùng có 01 tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS vì có 01 án tích chưa được xoá.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cần xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội là có căn cứ.
Về các vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ tên “Thủy”, có số điện thoại 0902633074, Tùng liên hệ để mua thuốc cai nghiện. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành xác minh, xác định: chủ thuê bao số di động là chị Cao Thị Kim Cương (SN 1974, HKTT: Số 17, đường Nguyễn Trung Trực, phường Ba Đình, Tp Hà Nội). Quá trình làm việc, chị Cương cung cấp trước đây có sử dụng số thuê bao này, nhưng cho chị bị mất và không có nhu cầu sử dụng nên chị Cương đã bỏ hiện không còn sử dụng. Hiện tại, chị Cương không biết ai sử dụng cũng không còn nhu cầu sử dụng và không có bán thuốc cai nghiện cho Tùng. Do không xác định được thông tin của người phụ nữ tên “Thủy” nên Cơ quan Công an không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với việc Phương nhờ Tùng mua thuốc cai nghiện để tự cai nghiện. Tùng đã mua hộ các vật chúng bị thu giữ gồm chất bột màu trắng bên trong 05 túi nilong và 2 viên nén trong vỉ thuốc có chữ SUBUTEX đều có ma túy loại Bupreorphine, tổng khối lượng 1,170g và 20 viên nén trong vì thuốc có chữ SEDUXEN đều có ma túy loại Diazepam, tổng khối lượng 3.656g. Do ý thức chủ quan của Phương và Tùng chỉ nhận thức đây là loại thuốc cai nghiện, chứ không biết trong loại thuốc cai nghiện này có chất ma túy và mặt khác theo quy định viên nén có ghi chữ SUBUTEX có nghĩa là một loại thuốc được dùng để điều trị triệu chứng cai nghiện, có hoạt chất Bupreorphine và viên nén có ghi chữ SEDUXEN có nghĩa là thuốc an thần, tên biệt dược của thuốc có hoạt chất Diazepam, nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội không đề cập xửlý đổi với Phương và Tùng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, là phù hợp.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị P 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2025.
Áp dụng diểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thanh T 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì đã được niêm phong dán kín của Phòng PC09 – CATP Hà Nội có chữ ký của giám định viên, chữ ký, họ tên của cán bộ Công an xã và đối tượng Vũ Thanh T, bên trong có: 01 phong bì có 02 xilanh đã qua sử dụng, 01 ống thủy tinh. 01 phong bì có chất bột màu trắng trong 05 túi nilong; 02 viên nén có ghi chữ SUBUTEX; 02 vỉ thuốc gồm 20 viên nén có ghi chữ SEDUXEN.
Tịch thu sung quỹ Nhà Nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, số Seri: KNKFPFZXNNJFTU8, đã qua sử dụng, bên trong có chứa sim số: 0988620282 của Phạm Thị P;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số Seri: C39V50PCJCM4, đã qua sử dụng, bên trong có chứa sim số điện thoại: 0334692695 của Vũ Thanh T.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Hà Nội.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hà Nội;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Hà Nội;
- VKSND khu vực 12 – Hà Nội;
- Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 12 – Hà Nội;
- UBND xã Phúc Sơn, xã Đại Xuyên (thay TBKQ xét xử);
- Bị cáo;
Bùi Thị Hồng
- Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Hồng
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hợp Tiến; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức Hiệp |