vanban.org

Bản án 56/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 19/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình N; sửa Bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình N 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2022. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Đình N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đình N - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình N; sửa Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2023/HS-PT
Ngày 01-06-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Minh Phương

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Vân Thuý

Ông Vũ Quang T

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 04 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Bùi Đình N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 06/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện AL, thành phố Hải Phòng:

- Bị cáo kháng cáo:

Bùi Đình N; sinh ngày 08 tháng 03 năm 1997, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Câu T, xã QH, huyện AL, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T (đã chết) và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 31/10/2022; có mặt;

- Ngoài ra còn có 03 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: Vũ Anh T, Vũ Văn Tr, Vũ T Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 30 tháng 4 năm 2022, Vũ Văn Tr, Vũ T Đ, Nguyễn Bá K, Ninh Ngọc Ki (16 tuổi 10 tháng 25 ngày), Vũ Anh T, Lự Thị Hu rủ nhau đi Bar MDM ở đường Lhp, quận Nq, thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 01 giờ ngày 01 tháng 5 năm 2022 thì đi về cùng 01 xe taxi. T bảo Tr gọi mua ma túy Ketamine và thuốc lắc (MDMA) để về nhà Đ cùng sử dụng và góp 500.000 đồng để mua ma tuý. Đ đề nghị đến quán Karaoke Bolero ở thôn Tzn, xã Mỹ Đ, huyện AL.

Tr gọi điện thoại cho Đào Văn Q (sinh năm 1999, trú tại thôn Câu Thượng, xã QH, huyện AL) hỏi mua 01 “chỉ” Ketamine giá 1.500.000 đồng và 02 viên MDMA giá 700.000 đồng, hẹn giao ma túy ở khu vực cổng Bệnh viện đa K huyện AL. Sau đó mọi người về phòng trọ của Lý Thị Hồng Th thuê ở thôn Khúc Giản, xã An Tiến, huyện AL để rủ Th đi chơi cùng thì gặp cả Bùi Đình N ở đây. Cả nhóm cùng thuê xe taxi để đi đến quán Karaoke Bolero, trong đó: T, Tr, K, Ki đi 01 xe; Đ, N, Hu, Th đi 01 xe.

Nhóm T đến khu vực cổng Bệnh viện AL thì Tr xuống xe gặp Q. Q bán cho Tr 01 “chỉ” Ketamine và 02 viên thuốc lắc. Tr trả cho Q 2.000.000 đồng, còn nợ 200.000 đồng rồi mang ma túy quay lại xe taxi đưa cho T. Tại đây T bẻ 02 viên MDMA thành 04 mảnh nhỏ, đưa cho Tr, Ki, K mỗi người một mảnh và cùng sử dụng ngay trên xe.

Khi đến quán Bolero, cả nhóm thuê phòng Vip 3. Tại đây, T đổ Ketamine từ trong túi nilon ra tờ tiền 2.000 đồng, hơ lửa rồi dùng móng tay xúc Ketamine đưa lên mũi sử dụng bằng hình thức hít. T tiếp tục xúc Ketamine đưa lên cho Tr, Ki, K cùng sử dụng.

Đến khoảng 05 giờ ngày 01 tháng 5 năm 2022, tại phòng Vip 3 Karaoke Bolero, Đ bảo T đi lấy thêm ma túy. T bảo Tr mua tiếp ma túy để sử dụng rồi góp cho Tr 500.000 đồng. Tr lại gọi cho Đào Văn Q hỏi mua 01 "chỉ" Ketamine và 02 viên MDMA, hẹn giao ở cửa quán Karaoke Bolero. Một lúc sau, Q đến bán cho Tr 01 “chỉ” Ketamine và 01 viên MDMA (do không còn đủ thuốc lắc) với giá là 1.850.000 đồng. Tr trả cho Q 500.000 đồng, còn nợ 1.350.000 đồng. Sau đó, Tr mang vào phòng Vip 3 đưa cho T. T cầm 01 viên MDMA đưa cho Đ thì Đ đưa lại cho N. N cầm viên MDMA bẻ làm 03 phần, đưa cho Hu và Th mỗi người 01 phần cùng N sử dụng bằng hình thức uống.

Sau đó, T bảo Đ đưa cho T đĩa sứ. T đổ Ketamine ra đĩa rồi hỏi mọi người có thẻ cứng và tiền không, mục đích để nghiền và làm ống hút ma túy Ketamine. Tr đưa thẻ Căn cước công dân mang tên Vũ Văn Tr cho Hu. Hu cầm thẻ đưa cho Đ, Đ dùng thẻ nghiền, kẻ Ketamine thành các đường trên đĩa. Hu đưa cho Th tờ polymer mệnh giá 20.000 đồng. Th dùng vỏ đầu lọc thuốc lá cuộn tờ tiền thành dạng ống rồi đặt lên đĩa. Sau đó, mọi người lần lượt sử dụng hết Ketamine thì T lại đổ Ketamine còn lại lên đĩa, dùng Căn cước công dân của Tr nghiền, kẻ Ketamine thành các đường để mọi người trong phòng cùng sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 15 phút ngày 01 tháng 5 năm 2022, cả nhóm bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan Công an thu giữ các vật chứng như sau:

- Trong túi bên phải quần của Vũ Anh T đang mặc có 01 gói nilon màu trắng kích thước (2,5x3)cm bên trong có tinh bột màu trắng (niêm phong mẫu M1). T khai là chất ma túy Ketamine.

- Trên mặt bàn phòng Vip 3: 03 túi nilon cùng kích thước (2,5x3)cm, khác đặc điểm, cùng bám dính chất bột màu trắng (niêm phong mẫu M2); 01 chiếc đĩa sành hình tròn màu trắng đường kính 25cm bám dính chất bột màu trắng, 01 vật bằng nhựa màu xanh trên thân vỏ có chữ BOOM;

- Trên ghế sofa phòng Vip 3: 01 tờ polymer mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn, cố định 02 đầu bằng vỏ thuốc lá màu vàng, bám dính chất bột màu trắng. Trong túi xách Hu có 01 Căn cước công dân mang tên Vũ Văn Tr, bám dính chất bột màu trắng.

- Sàn phòng Vip 3 có tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.

Đối với đĩa sành, tờ polymer được cuộn dạng ống, thẻ Căn cước công dân mang tên Vũ Văn Tr được niêm phong mẫu M3.

Cơ quan Công an đã lập biên bản kiểm tra hành chính, thu giữ, niêm phong vật chứng và lấy mẫu nước tiểu của các đối tượng để trưng cầu giám định chất ma túy. Tiến hành khám xét nơi ở của các đối tượng Vũ Văn Tr, Vũ Anh T, Vũ T Đ, Bùi Đình N, đều không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 182/KLGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: "Chất bột bám dính của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên. Chất bột bám dính của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại MDMA và Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên. Mẫu M3 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên. Các mẫu nước tiểu ghi tên Vũ Anh T, Lự Thị Hu, Ninh Ngọc Ki, Lý Thị Hồng Th, Bùi Đình N và Nguyễn Bá K đều tìm thấy ma túy, loại MDMA và Ketamine. Các mẫu nước tiểu ghi tên Vũ Văn Tr và Vũ T Đ đều tìm thấy ma túy loại Ketamine".

Trong vụ án này còn có Lý Thị Hồng Th (sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Quang Thổ, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu), Lự Thị Hu (sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn Bản Chao, xã Tú Lệ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) có hành vi cuộn tờ tiền polime và đưa căn cước công dân giúp cho việc sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an huyện AL ra Quyết định xử phạt hành chính. Bản án sơ thẩm đã kiến nghị Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát rút kinh nghiệm về nội dung này.

Các đối tượng Nguyễn Bá K và Ninh Ngọc Ki cùng sử dụng ma tuý, đã bị Công an huyện AL ra Quyết định xử phạt hành chính.

Đối với Đào Văn Q đã bị Toà án nhân dân huyện AL xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý tại Bản án số 65/2022/HS-ST ngày 16/12/2022.

Tại Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 06 tháng 03 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện AL, thành phố Hải Phòng đã: Căn cứ điểm a,b,c (đối với các bị cáo Vũ Anh T và Vũ Văn Tr); điểm b,c (đối với bị cáo Vũ T Đ); điểm b (đối với bị cáo Bùi Đình N) khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 47 điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo Vũ Anh T, Vũ Văn Tr và Bùi Đình N) khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Vũ T Đ và Bùi Đình N). Xử phạt bị cáo Vũ Anh T; bị cáo Vũ Văn Tr mỗi bị cáo 12 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2022. Xử phạt bị cáo Vũ T Đ 11 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2022. Xử phạt bị cáo Bùi Đình N 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2022. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13 tháng 3 năm 2023, bị cáo Bùi Đình N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai bản án sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là đúng, tuy nhiên mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo vi phạm pháp luật là do thiếu hiểu biết. Bị cáo đã có thời gian tham gia nghĩa vụ q sự; ông bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình khó khăn do bố đã mất, mẹ già yếu, còn anh trai bị tai nạn giao thông, không may bị chấn thương sọ não, là người khuyết tật, được hưởng trợ cấp hàng tháng; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo Bùi Đình N phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mới, mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo có phần nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo, tuyên xử bị cáo từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Đình N đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại các Điều 332, 333 và 334 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Đình N:

Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác nhận bản án sơ thẩm đã quyết định bị cáo phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với bị cáo là cao nên bị cáo kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã đánh giá tính chất vụ án, mức độ phạm tội, nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo và các bị cáo khác trong vụ án là có căn cứ. Tại giai đoạn phúc thẩm theo lời trình bày của bị cáo, gia đình bị cáo đã nộp thêm tài liệu thể hiện: Ông bà nội của bị cáo có công với cách mạng. Ông nội của bị cáo là chiến sỹ Điện Biên được Nhà nước tặng Huân chương chiến thắng hạng nhất; bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn do bố đã mất, mẹ tuổi cao, anh trai của bị cáo bị tai nạn giao thông, mất khả năng lao động, được hưởng trợ cấp xã hội (người khuyết tật nặng). Xét thấy, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo đã có thời gian tham gia nghĩa vụ q sự, được T đoàn Bộ binh 43 tặng danh hiệu chiến sỹ tiên tiến; đã học xong lớp sỹ quan dự bị của Bộ Quốc phòng mang cấp bậc thiếu uý. Hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; tại phiên toà phúc thẩm có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo có phần nghiêm khắc nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm mức hình phạt đối với bị cáo - điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, làm trầm trọng thêm tệ nạn ma tuý mà Đảng, Nhà nước và toàn dân đang cố gắng xóa bỏ; ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình, đạo Đ xã hội; là N nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nên cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn; bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật

- Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đình N; sửa Bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

2. Xử phạt bị cáo Bùi Đình N 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2022.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban THu vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Đình N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện AL, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ