- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Nguyễn Thị Thủy Điều 190 BLHS 2015 - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 56/2022/HSST Ngày 26 - 09 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tr n V n Sáu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Thanh;
2. Ông Trương V n H ng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh - Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 9 n m 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 8 n m 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96 202 Q ST-HS ngày 2 tháng 9 n m 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T (tên thường gọi: Mỹ Lệ), sinh n m 983, tại huyện An Phú, tỉnh An Giang; nơi đ ng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp, xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phậtt giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n H, sinh n m 958 và bà ặng Thị T3, sinh n m 1961; chị em ruột có 2 người, bị cáo là người lớn nhất; chồng Nguyễn V n H , sinh n m 983; có 03 con chung, lớn nhất sinh n m 999, nhỏ nhất sinh n m 2010.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 09 6 202 , bị ồn Biên phòng Cửa khẩu Long Bình - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang, xử phạt 7 500 000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm”, đã nộp phạt xong
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 7 0 2022 đến nay.
Bị cáo có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án:
Ông Bùi K, sinh n m 97 ;
ịa chỉ: Số A Hùng Vương, thị trấn D, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Trọng N, sinh n m 996;
2. Ông Nguyễn V n T1, sinh n m 985;
3. Ông inh V n T2, sinh n m 980.
Tại phiên tòa, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi K và những người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 16/12/2021, Nguyễn Thị T điều khiển xe mô tô BKS 79F8-7826 đến khu vực chợ ngã ba ình (thuộc ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, huyện An Phú) để tìm mua thuốc lá điếu nhập lậu bán lại kiếm lời T gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, địa chỉ) và thỏa thuận mua 57 bao thuốc lá điếu nhậu lậu (29 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, 28 bao thuốc lá nhãn hiệu Bayon) giá 76 000 đồng T cất giấu số bao thuốc lá trên vào bên trong cốp xe mô tô BKS 79F8-7826 rồi điều khiển xe đi về nhà Khi đến khu vực ấp Vạt Lài, xã Khánh Bình, huyện An Phú thì bị lực lượng Công an phát hiện và lập biên bản vi phạm
Sau đó, lực lượng tiến hành khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tại nơi trưng bày hàng hóa để bán của Nguyễn Thị T thuộc ấp Vạt Lài, xã Khánh Bình, huyện An Phú Qua khám xét, phát hiện và tạm giữ thêm 34 bao thuốc lá điếu nhập lậu (20 bao thuốc lá nhãn hiệu Ram, 0 bao thuốc lá nhãn hiệu Sunday, 04 bao thuốc lá nhãn hiệu Scott)
Ngày 7 0 2022, Nguyễn Thị T bị khởi tố, điều tra
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, ngày 08 5 2022, Nguyễn Thị T tiếp tục bị Công an huyện An Phú phát hiện bắt giữ số lượng 70 bao thuốc lá điếu nhập lậu ( 50 bao nhãn hiệu Ram, 20 bao nhãn hiệu Hero) tại khu vực tổ 09, ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú
Cáo trạng số 37/CT-VKSAP-HS ngày 30 tháng 8 n m 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản iều 90 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như đã nêu trên T mua thuốc lá điếu nhập lậu bán lại cho người khác để kiếm thêm thu nhập T không xác định được cụ thể những người bán thuốc lá, những ai đã mua thuốc lá điếu nhập lậu Số tiền thu lợi từ việc bán thuốc lá điếu nhập lậu, T không nhớ cụ thể, sử dụng vào việc tiêu xài hằng ngày trong gia đình e môtô BKS 79F8-7826 do T mua vào khoảng tháng 0 202 , chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu theo quy định
Do hoàn cảnh khó kh n, T buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu để kiếm lời, không vì mục đích khác T suy nghĩ buôn bán thuốc lá chỉ bị xử phạt tiền chứ không biết bị truy cứu trách nhiệm hình sự Cam kết không tái phạm
Hội đồng xét xử công bố các lời khai của các ông Bùi K, Võ Trọng Nhân, Nguyễn V n Tương, inh V n Tặng.
Theo lời khai của ông Bùi K ngày 15/3/2022, ông K xác định xe mô tô biển kiểm soát 79F8-7826 trước đây do ông đứng tên đ ng ký, sau đó ông đã chuyển nhượng cho người khác
Các ông T1, N, T2 khai này phù hợp với nội dung vụ án
ại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nh , đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; đề nghị c n cứ điểm e khoản
iều 90; điểm s khoản , khoản 2 iều 5 ; iều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (một) n m đến 0 (một) n m 06 (sáu) tháng tù.
ề nghị Hội đồng xét xử c n cứ các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; iều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án.
Bị cáo Nguyễn Thị T không có ý kiến tranh luận
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, iều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, iều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đ y đủ và phù hợp với quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Do đó, Hội đồng xét xử xem xét hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng vắng mặt không rõ lý do Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án; đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến về các lời khai này. Xét việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này là phù hợp quy định tại các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung:
ét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác C n cứ vào các lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có c n cứ xác định: Ngày 6 2 202 Nguyễn Thị T có hành vi buôn bán 91 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu; ngày 08 5 2022 T tiếp tục buôn bán 70 thuốc lá điếu ngoại nhập lậu Trước đó, ngày 09 6 202 , Nguyễn Thị T đã bị xử phạt 7 500 000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm”.
Theo quy định của Luật đ u tư n m 2020 (Kèm theo Phụ lục I) thì mặt hàng thuốc lá điếu là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Theo quy định tại iều 6 Luật đ u tư (Kèm theo Phụ lục I) thì mặt hàng thuốc lá điếu nhập lậu là mặt hàng cấm kinh doanh
Bị cáo là người có đ y đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự quản lý hành chính kinh tế nói chung và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thuốc lá điếu nói riêng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”; Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm e khoản iều 90 Bộ luật Hình sự ác định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đối với Nguyễn Thị T theo Cáo trạng số 37/CT-VKSAP-HS ngày 30 tháng 8 n m 2022 là có c n cứ, đúng pháp luật
ây là vụ án buôn bán hàng cấm có giá trị không lớn Tuy nhiên có ảnh hưởng lớn cho nền sản xuất và sự phát triển kinh tế cho đất nước. Bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi buôn bán thuốc đá điếu nhập lậu, biết rõ pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích lợi nhuận. Qua đó cũng cho thấy bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, đặc biệt là việc bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm trong thời gian bị truy tố Do đó c n thiết áp dụng hình phạt nghiêm để thể hiện sự r n đe của pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội
Về hình phạt:
Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã có 0 tiền tiền sự về hành vi “Buôn bán hàng cấm”.
Về tình tiết t ng nặng: Bị cáo không có tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nh : Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, tỏ thái độ n n n hối cải nên được xem xét giảm nh hình phạt theo quy định tại điểm s khoản
iều 5 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thuộc thành ph n lao động nghèo, gia đình có công Cách mạng, ít hiểu biết pháp luật, là lao động chính, nên được xem xét giảm nh hình phạt theo quy định tại khoản 2 iều 5 Bộ luật Hình sự
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có c n cứ, phù hơp tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo, nên được chấp nhận. Thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng còn lại trong vụ án, gồm: 0 (một) xe mô tô BKS 79F8-7826, đã qua sử dụng; 26 bao thuốc lá điếu ngoại; 0 cal nhựa loại 30 lít ược xử lý như sau:
- ối với xe mô tô BKS 79F8-7826 xác định là của bị cáo mua lại của người khác nhưng chưa sang tên Qua xác minh thì người đứng tên đ ng ký xe cũng xác định xe này đã chuyển nhượng cho người khác Bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước ồng thời tịch thu Giấy chứng nhận ng ký mô tô, xe máy số A00899 8 , tên chủ xe Bùi K, sinh n m 97 , do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 8 7 2000 giao Thi hành án xử lý khi xử lý xe mô tô BKS 79F8-7826.
- ối với toàn bộ 26 bao thuốc lá điếu nhập lậu là mặt hàng cấm kinh doanh, nên tịch thu tiêu hủy
- ối với cal nhựa được xác định là dụng cụ bị cáo sử dụng cất giấu thuốc lá, xét không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy
Nội dung khác:
Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ người bán thuốc lá điếu nhập lậu theo lời khai của bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2 Về hình phạt:
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
ử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) n m 06 (sáu) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án
3 Về xử lý vật chứng:
Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự,
- Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 0 (một) xe mô tô BKS 79F8-7826, số khung: CHL00Y 039473, số máy: FMH-200339473 (đã qua sử dụng), kèm giấy đ ng ký mang tên Bùi K, sinh n m 97
- Tuyên tịch thu tiêu hủy,
+ 261 (hai tr m sáu mươi một) bao thuốc lá điếu nhập lậu. Cụ thể: 28 (hai mươi tám) bao thuốc lá điếu hiệu Bayon; 49 (bốn mươi chín) bao thuốc lá điếu hiệu Hero; 70 (một tr m bảy mươi) bao thuốc lá điếu hiệu Ram; 0 (mười) bao thuốc lá điếu hiệu Sunday; 04 (bốn) bao thuốc lá điếu hiệu Scott.
+ 0 (một) cal nhựa loại 30 lít
(Theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 4 năm 2022 và ngày 30 tháng 8 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).
4 Về án phí:
Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật T tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh Quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c Hội,
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật T tụng hình sự,
n tuyên công khai có mặt bị cáo Nguyễn Thị T. Thời hạn kháng cáo của bị cáo là 5 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2022). Thời hạn kháng cáo của ông Bùi K là 5 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh An Giang ( ) - TAND tỉnh An Giang ( ); - VKSND huyện An Phú ( ); - Sở Tư pháp ( ); - Nhà Tạm giữ ( ); - Phòng hồ sơ ( ); - Thi hành án DS huyện An Phú ( ); - Bộ phận THAHS Tòa án (2); - UBND xã nơi bị cáo cư trú ( ); - Bị cáo ( ); - Người liên quan (1); - Lưu hồ sơ; - Lưu v n phòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Văn Sáu |