- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Hoang M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2018/HS-PT Ngày: 27-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số: 60/2018/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2018/HS-ST ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Hoàng M sinh ngày 1994 t i tỉnh Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Tổ 5 ấp V xã T thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc D sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Võ Thị Th sinh năm 1993 và 01 người con sinh năm 2013; tiền án tiền sự: Không. Bị cáo t i ngo i cho đến nay. Bị cáo có mặt t i phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa:
1. Ph m Trọng N, sinh ngày 02/02/1980 t i tỉnh Thái Bình. Hộ khẩu thường trú: Số nhà A khu phố T phường D thị xã D tỉnh Bình Dương (là bị cáo không có kháng cáo) vắng mặt.
2. Công ty Trách nhiệm hữu h n YBN. Địa chỉ: Một phần lô CN15 đường B đường C và đường D, Khu công nghiệp S thành phố T tỉnh Bình Dương (là bị h i trong v án).
Người đ i diện theo pháp luật: Ông Wang, Wen-P, sinh năm 1961 – Chức v : Tổng giám đốc.
Người đ i diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L sinh năm 1982 – Chức v : Trư ng phòng Nhân sự. Địa chỉ: Số nhà 46/E khu phố B phường B thị xã T tỉnh Bình Dương (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 15/6/2018), có mặt.
3. Ông Châu Quốc T sinh năm 1987 t i tỉnh Cà Mau. Hộ khẩu thường trú: Ấp 6 xã N huyện U, tỉnh Cà Mau; chỗ : Nhà trọ U ấp T xã T thị xã T tỉnh Bình Dương (là người làm chứng trong v án) có mặt.
4. Ông Nguyễn Văn B sinh năm 1990 t i tỉnh Bình Phước. Hộ khẩu thường trú: Số F ấp T xã T thị xã T tỉnh Bình Dương (là người làm chứng trong v án) có mặt.
Trong v án còn có 02 người có quyền lợi nghĩa v liên quan không kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Công ty Trách nhiệm hữu h n (gọi tắt là TNHH) Y có tr s t i số nhà 19 lô J đường H Khu công nghiệp S thị xã D tỉnh Bình Dương ký hợp đồng thuê xe tải của Công ty Trách nhiệm hữu h n Một thành viên (gọi tắt là TNHH MTV) A có tr s t i khu phố H phường P thành phố T tỉnh Bình Dương để vận chuyển hàng hóa. Nguyễn Hoàng M là tài xế lái xe của Công ty TNHH MTV A có nhiệm v lái xe tải để ch hàng cho công ty. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15/7/2016 Nguyễn Hoàng M nhận được yêu cầu của Công ty TNHH Y đến Công ty TNHH YBN t i Khu công nghiệp S phường P thành phố T tỉnh Bình Dương để vận chuyển hàng về Công ty TNHH Y. Khoảng 60 phút sau M điều khiển xe ô tô tải màu trắng hiệu Daewoo biển số 61C-146.81 của Công ty TNHH MTV A đến Công ty TNHH YBN để lấy hàng. Khi đến nơi có Ph m Trọng N là người lái xe nâng để nâng hàng lên xe tải cho M ph giúp cho N nâng hàng có Nguyễn Văn B Châu Quốc T và Nguyễn Văn S (B và T có nhiệm v đọc số kg và đếm số cuộn thép mỗi khi N nâng hàng lên xe còn S thì ghi số cuộn và số kg mà T và B đọc). Ph m Trọng N được ông Nguyễn Đức D làm việc t i văn phòng công ty thông báo số lượng hàng cần nâng lên xe tải là 15 tấn thép dây cuộn tương đương từ 140 đến 150 cuộn. Sau đó N S T và B thực hiện việc nâng hàng lên xe tải còn M leo lên cabin xe tải nằm ngủ.
Sau khi nâng hàng được khoảng 35 phút T đến chỗ S ghi để xem số lượng hàng đã nâng thì thấy S đã ghi được 136 cuộn dây thép nên T lấy điện tho i di động (không rõ nhãn hiệu) của T để cộng số kg của 136 cuộn dây thép thì được khoảng 13 tấn (T không nhớ số chính xác). Từ lúc này cứ sau mỗi lần N nâng hàng, B và T đọc số kg và số cuộn để S ghi xong thì T đến cộng tiếp số kg còn l i.
Sau khi nâng hàng được khoảng 60 phút thì N hỏi T “bao nhiêu cuộn rồi” nên T đến chổ S xem số lượng hàng đã nâng lên là 151 cuộn. Lúc này T cộng dồn thì được 14.928 kg nên T báo cho B S và N biết. N nói đủ rồi và ngưng nâng hàng vì đã đủ số lượng. Sau đó S đưa tờ giấy mà S đã ghi số cuộn và số kg cho T để T đưa đến văn phòng cho ông Nguyễn Đức D làm phiếu xuất hàng và phiếu giao hàng nguyên liệu.
Lúc này, M ch y xe tải đến dừng cổng trước của công ty để chờ lấy phiếu xuất hàng và phiếu giao hàng; còn N thì ch y xe nâng đem cất. Sau đó S đến gặp N và nói cho N biết lúc nãy khi nâng hàng thép dây cuộn để chất lên xe tải của M S đã cố tình chất thêm 10 cuộn nhưng không ghi số lượng để làm phiếu xuất hàng phiếu giao hàng nguyên liệu. Vì vậy số lượng hàng thép dây cuộn thực tế trên xe sẽ dư 10 cuộn so với phiếu xuất hàng phiếu giao hàng. S nói N tìm cách đưa 10 cuộn thép dây cuộn này ra ngoài công ty để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài và N đồng ý. N gọi điện tho i cho M nói trên xe tải có chất dư 10 cuộn thép dây cuộn so với phiếu xuất hàng và phiếu giao hàng nguyên liệu M đem ra ngoài công ty bán lấy tiền chia nhau tiêu xài và M đồng ý.
M điều khiển xe đến giao lộ giữa đường M và đường P thì dừng xe trước tiệm phế liệu (không tên) của bà Lê Thị V. T i đây M nói với bà V là xe ch y quá tải sợ bị ph t cho M gửi ít hàng lát nữa M quay l i lấy. Do M năn nỉ nên bà V đồng ý. M gửi t i tiệm phế liệu của bà V 09 cuộn thép dây. Sau đó M tiếp t c ch y xe ch hàng đến Công ty TNHH Y để giao hàng.
Sau khi M bỏ 09 cuộn thép dây xuống tiệm phế liệu của bà V và ch y xe đi thì bị ông Wang Pao T là Giám đốc của Công ty TNHH Y nhìn thấy. Ông Wang Pao T ch y đến tiệm phế liệu để kiểm tra và phát hiện 09 cuộn thép dây trong tiệm phế liệu là của công ty ông. Ông Wang Pao T liền gọi điện tho i cho ông Nguyễn Văn Q là phiên dịch của ông T đến tiệm phế liệu của bà V. Khi đến nơi ông Q phiên dịch cho ông T để nói chuyện với bà V bà V cho biết là do tài xế xe tải gửi nên ông T báo cho ông Phan Văn K là Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV A. Ông K ch y đến tiệm phế liệu của bà V và xác định M là tài xế ch hàng cho Công ty TNHH Y t i thời điểm trên nên ông K gọi điện tho i hỏi M đang đâu M nói đã ch y về đến Công ty TNHH Y. Do vậy ông K và ông Wang Pao T cùng đến Công ty TNHH Y. T i đây M đã khai nhận hành vi chiếm đo t 09 cuộn thép dây cùng Ph m Trọng N. Qua kiểm tra số lượng hàng còn l i trên xe tải xác định có 152 cuộn thép dây cuộn. Như vậy: Tổng cộng số lượng thực tế là 161 cuộn thép dây cuộn.
Ngày 19/7/2016 Công ty TNHH Y đến Công an phường P thành phố T tỉnh Bình Dương trình báo sự việc và hồ sơ được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền.
T i Kết luận định giá tài sản số 221/KLTS-TTHS ngày 21/10/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thành phố T kết luận: 09 cuộn thép dây lo i phi 3.67 tổng trọng lượng 914 kg có giá 10.000 đồng/kg tổng trị giá 9.140.000 đồng.
Đối với người nam tên Nguyễn Văn S sinh năm 1984 đã nghỉ việc t i Công ty TNHH Yaban. Qua xác minh hiện t i Nguyễn Văn S không có mặt t i địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T tiếp t c điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2018/HS-ST ngày 26/3/2018 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng M ph m tội “Trộm cắp tài sản”
Áp d ng khoản 1 điều 138; các điểm g h p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009,
Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Hoàng M 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Bản án sơ thẩm còn xử ph t bị cáo Ph m Trọng N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 30/3/2018 bị cáo Nguyễn Hoàng M làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin được hư ng án treo.
Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Xác định tội danh điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M là có căn cứ đúng người đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin được hư ng án treo nhưng t i Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với Nguyễn Văn S: Căn cứ vào tài liệu chứng có trong hồ sơ và căn cứ vào lời khai của ông L, ông T, ông B t i phiên tòa thì S đóng vai trò chủ mưu và thực hiện hành vi ghi số lượng hàng. Sau đó S báo cho N để cùng đồng ph m chiếm đo t tài sản. Như vậy hành vi của S đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, S còn có hộ khẩu thường trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Công an thành phố T kh i tố đối với S.
Bị cáo Nguyễn Hoàng M nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hư ng án treo để bị cáo tự cải t o và có điều kiện lo cho gia đình.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng M lập ngày 30 tháng 3 năm 2018 được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.
[2] T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hoàng M đã khai nhận hành vi ph m tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ s xác định:
Ngày 15/7/2016 Nguyễn Văn S lợi d ng sơ h của Công ty TNHH YBN đã lén lút chiếm đo t 09 (chín) cuộn thép dây lo i phi 3.67 (tổng trọng lượng 914 kg). Sau đó, S báo cho Ph m Trọng N và N báo cho Nguyễn Hoàng M biết để tìm cách đưa hàng ra khỏi công ty tìm nơi tiêu th bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Tổng giá trị tài sản M N và S chiếm đo t là 9.140.000 đồng. Hành vi bị cáo Nguyễn Hoàng M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định t i khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
[3] Hành vi của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội xâm ph m trực tiếp đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công ty (pháp nhân) được pháp luật bảo vệ; ảnh hư ng đến tình hình trật tự trị an t i địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đo t tài sản của công ty là vi ph m pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi bị cáo đã bất chấp hậu quả cố ý thực hiện hành vi ph m tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi ph m tội của mình theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của bị cáo Nguyễn Hoàng M. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng t i Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Mức hình ph t mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi ph m tội của bị cáo. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình ph t là không có cơ s chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo xin được hư ng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng M. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo M có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như:
Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tài sản bị cáo chiếm đo t đã được thu hồi trả l i cho bị h i. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định t i khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng.
Căn cứ vào tính chất mức độ hậu quả của hành vi ph m tội và căn cứ vào nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện để được hư ng án treo theo quy định t i khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo. Bị cáo có khả năng tự cải t o nên việc không cách ly bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t tù đối với bị cáo là nghiêm khắc. Do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hư ng án treo.
[6] Trong v án này Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố t ng không đúng cần phải rút kinh nghiệm c thể:
+ Xác định Công ty TNHH YBN là nguyên đơn dân sự là không đúng với quy định t i Điều 63 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015. Vì nguyên đơn dân sự phải hội đủ 02 điều kiện: Phải có thiệt h i về vật chất do tội ph m gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt h i. Trong v án này Công ty TNHH YBN không có đơn yêu cầu bồi thường thiệt h i nên công ty tham gia tố t ng trong v án này với tư cách là bị h i theo quy định t i Điều 62 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 mới đúng.
+ Xác định Công ty TNHH Một Thành Viên A là bị đơn dân sự là không đúng với quy định t i Điều 64 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015. Vì trong v án này Công ty TNHH Một Thành Viên A không phải bồi thường thiệt h i. Như vậy Công ty TNHH Một Thành Viên A tham gia tố t ng trong v án này là với tư cách là người có quyền lợi nghĩa v liên quan mới đúng.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn S: Xét thấy S là người chủ mưu trong v án S đã thực hiện hành vi chiếm đo t tài sản của Công ty TNHH YBN qua công việc được giao. Qua lời khai của ông L, ông T và ông B trong quá trình điều tra và t i phiên tòa đủ căn cứ xác định S ph m tội “Trộm cắp tài sản” nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T không kh i tố đối với S là bỏ lọt tội ph m. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Công an thành phố T kh i tố đối với Nguyễn Văn S về hành vi chiếm đo t tài sản của Công ty TNHH YBN để xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của bị cáo là có căn cứ và yêu cầu Hội đồng xét xử kiến nghị kh i tố Nguyễn Văn S là phù hợp. Đối với đề nghị của đ i diện Viện Kiểm sát về việc không chấp nhận kháng cáo xin được hư ng án treo của bị cáo là chưa phù hợp.
[8] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
[9] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng M không phải chịu.
Vì các lẽ trên
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2018/HS-ST ngày 26/3/2018 của Toà án nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình ph t.
Áp d ng khoản 1 điều 138; các điểm g h p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 53 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009,
Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Hoàng M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 27/6/2018).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng M cho Ủy ban nhân dân xã T thị xã T tỉnh Bình Dương giám sát giáo d c trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Hoàng M có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định t i khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hoàng M không phải nộp.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thành phố T; 2 - VKSND thành phố T; 1 - Chi c c THADS thành phố T; 1 - Phòng PV27 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thành phố T; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 2 - Tr i T m giam – Công an tỉnh BD; - Bị cáo; 2 - Tổ Hành chính Tư pháp; 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 2 THẨM PHÁN THÀNH VIÊN Nguyễn Huỳnh Đức Trần Văn Luông | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Huy Toàn THẨM PHÁN CHỦ TỌA Hoàng Huy Toàn |