vanban.org

Bản án 56/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Tao Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tao Văn P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 08/7/2017. Toà án Tỉnh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tao Văn Pình trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Tao Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2017/HSST
Ngày 25-9-2017

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Long

- Các hội thẩm nhân dân:

+ Ông:

Lò Thanh Tuyền

+ Ông:

Hồ Thanh Sơn

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa:

Ông: Phan Hồng Phúc Cán bộ TAND thành phố Lai Châu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu:

Ông: Nguyễn Bá Đoàn

Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017 mở phiên toà công khai sơ thẩm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 55/2017/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2017/HSST-QĐ ngày 13/9/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tao Văn P

Sinh năm: 1998 tại tỉnh Lai Châu; Tên gọi khác: Không

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản Pậu, xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Dân tộc: Lự;

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Học vấn: 09/12.

Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2017 cho đến nay (có mặt)

Con ông Tao Văn Ín và bà Tao Thị Sòn. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con.

gư i b hại:

Chị: Vƣơng Thị Thu Hiền - Sinh năm 1977

Trú tại: Thôn Hữu Nghị, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

(Vắng mặt có lý do)

gư i àm ch ng:

Chị: Nguyễn Thị Thu - Sinh năm 1983

Trú tại: tổ 26, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

(Vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Đơn trình báo tại Công an phường Đông Phong, thành phố Lai Châu của chị Vương Thị Thu Hiền (sinh năm 1977; trú tại thôn Hữu Nghị, thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) về việc rạng sáng ngày 08/7/2017 chị bị kẻ gian lấy trộm 02 chiếc điện thoại (gồm: 01 điện thoại IPHONE 6 thường màu vàng, kèm theo sạc và 01 điện thoại SAMSUNG GALAXY Note5 màu Gol – vàng) tại phòng 405 (tầng 4, nhà D) Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu (thuộc tổ 24, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu).

Tiến hành điều tra, cùng ngày 08/7/2017 cơ quan điều tra triệu tập Tao Văn P (sinh năm 1998; trú tại bản Pậu, xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu), tại cơ quan điều tra P thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, cơ quan điều tra thu giữ được 02 chiếc điện thoại (01 chiếc thu giữ của Pình và 01 chiếc do chị Thu giao nộp) và 350.000VNĐ của Pình.

Tại cơ quan điều tra P khai nhận: Tối 07/7/2017 P đi loanh quanh trong khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu với mục đích lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ 30 ngày 08/7/2017 P đi đến phòng 405, tầng 4, nhà D thì phát hiện cửa phòng không khoá, điện tắt, chỉ còn ánh sáng phát ra từ tivi. P quan sát trong phòng thấy có 02 giường bệnh đều có người nằm và giường gấp ở giữa hai giường cũng có người nằm; trên mặt tủ đựng đồ có chiếc điện thoại đang cắm sạc và 01 chiếc điện thoại đặt trên ghế nhựa cạnh chiếc giường giáp hành lang, quan sát thấy không có ai còn thức P gõ cửa hai lần, không thấy người trong phòng phản ứng gì. P đi vào trong phòng rút sạc chiếc điện thoại trên tủ đựng đồ cho vào túi quần bên phải rồi lấy chiếc điện thoại để trên ghế cho vào túi quần bên trái. Sau đó P đi xuống tầng 1 bỏ tài sản trộm cắp được ra xem gồm 01 điện thoại IPHONE 6 thường kèm sạc và 01 điện thoại SAMSUNG GALAXY Note5, rút dây sạc vứt đi, P dò mật khẩu của 2 chiếc điện thoại nhưng không được nên đặt sang chế độ máy bay để không có người nào liên lạc được. Khoảng 06 giờ P ra uống nước trước cổng bệnh viện, đến khoảng 09 giờ P đi bộ sang cửa hàng điện thoại đối diện Bệnh viện, gặp người phụ nữ đứng bán hàng (sau này P biết đó là chị Nguyễn Thị Thu sinh năm 1983, Trú tại: tổ 26, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu), P đưa cho chị Thu chiếc điện thoại SAMSUNG Note5 và bảo chị Thu phá khoá, chị Thu cầm điện thoại xem và bảo 02 giờ nữa quay lại, chi phí phá khoá hết 150.000VNĐ, P nhất trí để lại điện thoại và đi ra quán điện tử gần bến xe khách tỉnh Lai Châu chơi điện tử. Đến khoảng 16 giờ do mải chơi nên P chưa quay lại lấy điện thoại thì bị các đồng chí công an mời về trụ sở làm việc.

Căn cứ lời khai của P, ngày 09/7/2017 Cơ quan điều tra đã mời chị Thu đến làm việc. Tại cơ quan điều tra chị Thu khai nhận hoàn toàn phù hợp với lời khai của P: Khoảng 09 giờ chị đang ở cửa hàng do mình quản lý thì có nam thanh niên khoảng 20 tuổi đến yêu cầu phá khoá chiếc điện thoại SAMSUNG Note5, chị đưa ra giá 150.000VNĐ và hẹn 02 giờ sau quay lại lấy. Do chồng chị đi vắng nên việc phá khoá chưa thực hiện được, khi được cơ quan điều tra triệu tập chị đã giao nộp lại chiếc điện thoại.

Ngày 11/7/2017 Cơ quan điều tra cho tiến hành đối chất giữ chị Thu và P, kết quả là chị Thu và P đều thừa nhận đúng như lời khai có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập người bị hại chị Vương Thị Thu Hiền, tại cơ quan điều tra chị khai nhận như trong đơn trình báo. Do phải vào bệnh viện chăm mẹ và làm việc muộn nên chị đã ngủ say dẫn đến việc bị Pình trộm cắp 02 chiếc điện thoại như đã nêu ở trên. Ngoài ra chị còn cung cấp mật khẩu, số IMEI của hai chiếc điện thoại. Ngày 09/7/2017 Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại (BL79, BL80), kết quả mật khẩu và số IMEI chị Hiền cung cấp hoàn toàn trung khớp với hai chiếc máy điện thoại P đã trộm cắp. Ngoài ra kiểm tra bộ sưu tập trong máy đều có hình ảnh cá nhân của chị Hiền. Qua đó khẳng định được hai chiếc máy điện thoại thu giữ của P là do P trộm cắp của chị Hiền mà có.

Kết luận định giá tài sản số 13/KLĐG ngày 10/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản TP Lai Châu đã kết luận: 01 ch c n tho d n IPHONE

u v n n tr

n

ch c n tho d n SAMSUNG GALAXY Note

u v n tr

n T n c n tr

9.840.000 n .

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 39/KSĐT-SH ngày 08/9/2017 của VKSND thành phố Lai Châu truy tố Tao Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138/BLHS.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ nguyên quyết định truy tố hành vi của bị cáo P đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản và đề nghị: Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46/BLHS; Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2017; Miễn hình phạt bổ sung. Người bị hại chị Vương Thị Thu Hiền đã nhận lại tài sản của mình, tại phiên tòa chị có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì thêm.

Qua quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên, bị cáo đều nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh qua lời khai của người bị hại, người làm chứng. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận như sau: Khoảng 01 giờ 30 sáng ngày 08/7/2017 lợi dụng sơ hở của chị Vương Thị Thu Hiền đang trông người nhà bị ốm tại phòng 405, tầng 4, nhà D Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu, Tao Văn P đã lấy trộm 01 điện thoại IPHONE 6 màu vàng đồng trị giá 4.495.000VNĐ và 01 điện thoại SAMSUNG GALAXY Note5 màu vàng trị giá 5.345.000VNĐ; Tổng cộng trị giá 9.840.000VNĐ với mục đích đem bán lấy tiền tiêu sài cho nhu cầu của bản thân. Theo quy định tại khoản 1 điều 138/BLHS: Ngườ n o tr cắp t sản của n ườ kh c có

tr từ ha tr u n n dướ nă ươ tr u n hoặc dướ ha tr u n nhưn ây hậu quả n h ê trọn hoặc ã b xử ph t h nh chính về h nh v ch

o t hoặc ã b k t n về t ch

o t t sản, chưa ược xo n tích còn v ph , thì b ph t cả t o kh n a ữ n ba nă hoặc ph t tù từ s u th n n ba nă

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn gây mất trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn. Nguyên nhân là do ý thức chấp hành pháp luật kém, tham lam tư lợi nên dẫn bị cáo vào con đường phạm tội.

Xét về nhân thân: Bị cáo sinh ra trong một gia đình lao động, học hết lớp 9/12 rồi ở nhà lao động sản xuất. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn; Vì vậy cần áp dụng điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46/BLHS là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo ý thức được việc làm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, bị cáo có đủ năng lực để chịu tránh nhiệm hình sự về hành vi của mình. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại chị Vương Thị Thu Hiền vắng mặt tại phiên tòa, đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 138/BLHS quy định: N ườ ph t có th b ph t t ền từ nă tr u n n nă ươ tr u n Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tuy nhiên xét điều kiện kinh tế của bị cáo còn sống phụ thuộc vào gia đình, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Tang vật của vụ án là: 02 chiếc điện thoại và vật chứng là 02 hộp đựng điện thoại (do chị Hiền giao nộp) đã được trao trả cho chủ sở hữu chị Vương Thị Thu Hiền nên không xem xét.

Số tiền 350.000VNĐ thu giữ của bị cáo cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo nên không xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại điều 98; 99/BLTTHS và Pháp lệnh số 10 của UBTVQH ngày 27/2/2009.

Vì các ẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Tao Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46/BLHS.

Xử phạt bị cáo Tao Văn P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 08/7/2017.

3. Áp dụng điều 98; 99/BLTTHS; Nghị quyết 326 của UBTVQH ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

4. Áp dụng điều 234/BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai. Nơi gửi:

Cỡ chữ