vanban.org

Bản án 56/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp xe mô tô - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2017/HSST
Ngày: 26/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chu Nhương và bà Trần Thị Ngọc.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân, tỉnh Hà nam tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2017/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:

Bùi Đức C, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện H, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; con ông Bùi Văn L và bà Hoàng Thị V; có vợ là Vũ Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam, giữ từ ngày 17/7/2017 cho đến nay; có mặt.

- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm H, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Đức C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 13/7/2017, Bùi Đức C đi bộ sang nhà chị Nguyễn Thị N ở xóm H, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam. Thấy không có ai ở nhà, C đã mở cửa vào trong nhà và phát hiện chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 90B1-807.46 trên xe vẫn cắm chìa khoá điện, C dắt chiếc xe ra khỏi nhà đi qua vườn chuối của gia đình ông Đỗ Thanh Q thì gặp cháu Nguyễn Tiến B, cháu B chào C nhưng C không trả lời mà tiếp tục dắt xe lên đường bê tông của xóm H sau đó nổ máy điều khiển xe đi. Đến khoảng 02 giờ ngày 14/7/2017, C dùng điện thoại di động của mình nhắn tin cho vợ là chị Vũ Thị H với nội dung đã trộm cắp chiếc xe mô tô của gia đình chị N và đã cầm cố tại thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên được 7.000.000 đồng, nhờ chị H vay tiền để chuộc xe. Khoảng 14 giờ ngày 14/7/2017, bà Hoàng Thị V là mẹ đẻ của C cho C 7.000.000 đồng để đi chuộc xe, đến 16 giờ 30 phút cùng ngày C mang xe môtô về trả cho chị N. Sáng ngày 17/7/2017, C đến Công an huyện Lý Nhân đầu thú.

Theo định giá chiếc xe môtô Airblade biển kiểm soát 90B1-807.46 của chị Nguyễn Thị N trị giá 17.775.000 đồng, Công an huyện Lý Nhân đã trả lại chị Nguyễn Thị N. Chị Nguyễn Thị N không có yêu cầu gì về bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Tại bản cáo trạng số 54/KSĐT-SH ngày 28/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Bùi Đức C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, Kiểm sát viên trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Đức C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Đức C khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố và nhất trí với luận tội của kiểm sát viên.

Người bị hại nhất trí với luận tội của kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo Bùi Đức C tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu được. Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 13/7/2017, Bùi Đức C đã lén lút vào nhà chị Nguyễn Thị N ở xóm Hoà Bình, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thị N chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 90B1-807.46, trị giá 17.775.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Bùi Đức C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Đức C là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của chị N, gây mất trật tự trị an địa phương. Vì vậy phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; bị cáo đã ra đầu thú và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - Là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Mặc dù bị cáo Bùi Đức C có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và thời gian gần đây trên địa bàn huyện Lý Nhân xảy ra nhiều vụ trộm cắp xe máy, gây lo lắng trong nhân dân, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị N đã nhận lại chiếc xe môtô và không có yêu cầu đề nghị gì nên không phải giải quyết về dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người người bị hại được quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 - Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Đức C 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam giữ 17/7/2017.

2. Về hình phạt bổ sung

Áp dụng khoản 5 điều 138 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Bùi Đức C 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí

Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Đức C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo; người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ