- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 56 /2017/HS-ST Ngày: 14/ 12 /2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Huy – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố
Châu Đốc, tỉnh An Giang.
2. Bà Nguyễn Phan Thùy Trang – Giám đốc Trung tâm Dân số Kế
hoạch hóa gia đình thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy, cán bộ
Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An
Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố
Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2017/HSST
ngày 13 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1995; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ
M, khóm B, phường H, thành phố Đ, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê;
trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Thành T và bà Lê Thị C; chưa lập gia
đình.
Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 09/9/2016 bị Công an phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu
Đốc xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài
sản” , vẫn chưa nộp phạt.
Bị bắt tạm giam từ ngày 31/8/2017 cho đến nay; có mặt.
Người bị hại: Ông Võ Văn V, sinh năm 1958; nơi cư trú: tổ S, khóm V,
phường N, thành phố Đ, tỉnh An Giang; có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông La Thiết H, sinh năm
1953; nơi cư trú: số X, đường N, tổ M, khóm Q, phường H, thành phố Đ, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Tuấn T bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc
truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 22 giờ ngày 29/5/2017,
Nguyễn Tuấn T đi bộ đến khu vực khóm V, phường N, thành phố Châu Đốc để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến trước nhà ông Võ Văn V (thuộc tổ 07, khóm V, phường N, thành phố Châu Đốc) thấy cửa hông nhà ông Voi chỉ khép hờ không khóa và bên trong nhà không có người. T vào nhà lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu DIOAM, biển kiểm soát 67F8 – 5326 có gắn sẵn chìa khóa nên T dẫn xe ra đường và đóng cửa lại rồi chạy xe về khóm 2, phường Châu Phú A cất giấu tại ngôi nhà hoang, T mở cốp xe thì thấy bên trong có 01 cái túi nhựa có dây kéo màu đen (nhìn giống cái ví) bên trong có 01 giấy chứng nhận xe mô tô biển kiểm soát 67F8 -5326 mang tên La Thiết H; 01 giấy phép lái xe mang tên Võ Văn V và 01 giấy chứng nhận bảo vệ dân phố mang tên Võ Văn V, T bỏ vào túi quần rồi về nhà ngủ. Đến ngày 01/6/2017 T bị công an phường Châu Phú A bắt giữ cùng tang vật khi đang chơi Internet tại khóm Châu Thạnh.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 67F8 -5326, nhãn hiệu DIOAM,
màu nâu, số máy 00000097, số khung: 2D00397 (đã trả lại cho ông Võ Văn V);
- 01 (một) giấy phép lái xe số: M113175 mang tên Võ Văn V (đã trả lại
cho ông Võ Văn V);
- 01 (một) giấy chứng nhận bảo vệ dân phố mang tên Võ Văn V (đã trả
lại cho ông Võ Văn V);
- 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số A0121695 mang tên La
Thiết Hùng (đã trả lại cho ông Võ Văn V).
Theo kết luận định giá tài sản số 106/KL-ĐG ngày 23/6/2017 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc, xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu DIOAM, màu sơn xe: màu nâu, số máy: 00000097, số khung: 2D397, biển kiểm soát: 67F8-5326, xe đã qua sử dụng. Giá trị còn lại: 3.500.000 đồng.
Ngày 28/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu
Đốc ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuấn T. Đến ngày 31/8/2017, T bị bắt tạm giam để điều tra.
Tại bản Cáo trạng số 51/VKS-HS ngày 13 tháng 11 năm 2017, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo
Nguyễn Tuấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138
Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo
trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát
viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
- Người bị hại ông Võ Văn V cung cấp lời khai như đã khai trong giai
đoạn điều tra. Không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu
trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài
liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị
cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1
Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Vì
vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo
là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân của bị cáo ngày 09/9/2016 bị Công an phường Vĩnh Mỹ,
thành phố Châu Đốc xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi
“Trộm cắp tài sản” , vẫn chưa nộp phạt. Bị cáo không có thái độ sửa chữa sai
lầm lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội của bị cáo
được thực hiện với lỗi cố ý, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của
người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo sợ mất
tài sản trong nhân dân. Vì vậy nghĩ nên áp dụng một mức hình phạt nghiêm
khắc cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo trở thành một công dân có
ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã
thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều
46 Bộ luật Hình sự.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p
khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06
tháng tù.
Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên
không áp dụng hình phạt bổ sung.
Biện pháp tư pháp: vật chứng cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu
là phù hợp nên không đặt ra để giải quyết lại; trách nhiệm dân sự: Do người bị
hại Võ Văn V không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét giải
quyết.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
- Về tố tụng: Mặc dù, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập
tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông La Thiết H được Tòa án triệu tập vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, ông Hùng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của ông Hùng không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông La Thiết H.
- Về nội dung:
Bị cáo Nguyễn Tuấn T khai nhận, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên
khoảng 22 giờ ngày 29/5/2017, bị cáo đi bộ đến khu vực khóm Vĩnh Tân, phường Vĩnh Nguơn, thành phố Châu Đốc để tìm tài sản lấy trộm. Tại đây bị cáo thấy nhà ông Voi cửa hông chỉ khép hờ không khóa nhìn vào bên trong nhà thấy không có người nhưng có 02 xe mô tô, 01 chiếc nhãn hiệu Wave màu xanh và 01 chiếc nhãn hiệu Dioam biển kiểm soát 67F8 – 5326, trên xe Dioam có gắn sẵn chìa khóa nên bị cáo đã mở cửa và dẫn xe ra đường rồi khép cửa lại rồi. Bị cáo chạy xe về khóm 2, phường Châu Phú A cất giấu tại ngôi nhà hoang nơi bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy, sau đó bị cáo mở cốp xe thì thấy bên trong có 01 cái túi nhựa có dây kéo màu đen bên trong có 01 giấy chứng nhận xe mô tô biển kiểm soát 67F8 -5326 mang tên La Thiết H; 01 giấy phép lái xe mang tên Võ Văn V và 01 giấy chứng nhận bảo vệ dân phố mang tên Võ Văn V. Đến ngày 01/6/2017 bị cáo bị công an phường Châu Phú A bắt giữ cùng tang vật khi đang chơi Internet tại khóm Châu Thạnh.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai
đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường ngày 15-6-2017 do Cơ quan điều tra Công an thành phố Châu Đốc lập; lời khai của người bị hại ông Võ Văn V và vợ là bà Trương Thị M về thời gian và việc bị mất trộm 01 xe mô tô Dioam biển kiểm soát 67F8 – 5326 cùng các giấy tờ khác có liên quan được thể hiện tại biên bản về việc trả lại tài sản ngày 25/6/2017; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông La Thiết H về việc có chủ sở hữu xe mô tô Dioam biển kiểm soát 67F8 – 5326 nhưng do không có nhu cầu sử dụng nên vào năm 2010 ông Hùng đã bán xe lại cho ông Voi và không có yêu cầu gì đối với xe mô tô vừa được nêu; lời khai người làm chứng ông Cao Hoài Phong có chứng kiến việc bị cáo bị bắt cùng tang vật và ông Lưu Thái Bình là người trực tiếp bắt giữ bị cáo cùng tang vật.
Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ là 01
xe mô tô nhãn hiệu DIOAM, màu sơn xe: màu nâu, số máy: 00000097, số khung: 2D397, biển kiểm soát: 67F8-5326; - 01 (một) giấy phép lái xe số: M113175 mang tên Võ Văn V; 01 (một) giấy chứng nhận bảo vệ dân phố mang tên Võ Văn V; 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số A0121695 mang tên La Thiết H. Từ đó, có cơ sở xác định bị cáo T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Voi.
Theo kết luận định giá tài sản số 106/KL-ĐG ngày 23/6/2017 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc, xác định: 01
xe mô tô nhãn hiệu DIOAM, màu sơn xe: màu nâu, số máy: 00000097, số
khung: 2D397, biển kiểm soát: 67F8-5326, xe đã qua sử dụng. Giá trị còn lại:
3.500.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức
rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Voi là xâm phạm quyền sở hữu của
người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lợi dụng đêm tối
vắng vẻ, người bị hại ngủ say thiếu cảnh giác để chiếm đoạt, nhanh chóng tẩu
thoát để tránh bị phát hiện của chủ sở hữu, người xung quanh và sự thừa nhận
của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm
1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc
truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp
luật.
Quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá
nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở
hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng
chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Bị cáo đang ở tuổi lao động, đáng lẽ, phải cố gắng lao động để tạo thu
nhập chính đáng nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi, bị cáo đã
chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây
mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, đã
từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi trộm cắp tài sản và hiện
còn có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Công an phường Vĩnh Mỹ,
thành phố Châu Đốc xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng nhưng vẫn
chưa nộp phạt. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân xấu nên cần có một mức
hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích
răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị
cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Vì
vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên không áp
dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, người bị
hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập giải quyết. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng, trong giai đoạn điều tra, xe mô tô bị chiếm đoạt và
các giấy tờ có liên quan đã được trả lại cho người bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự
năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Xử phạt: Nguyễn Tuấn T: (01) một năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt
tạm giam ngày 31/8/2017 (ngày ba mươi một, tháng tám, năm hai nghìn không trăm mười bảy).
Áp dụng Điều 98, Điều 99, Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng
án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với án phí) cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ông Voi có quyền
kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông La Thiết H là 15 ngày kể từ ngày
bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |