- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Hùng C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Hùng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 60 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2017/HS-ST Ngày: 28/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Luân Văn Lý
2. Ông Dương Khánh Luy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh - Thư ký Tòa án nhân dân thµnh phè Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thµnh phè Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2017/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2017/QĐXXST- HS ngày 15/8/2017 đối với bị cáo:
HÀ HÙNG C - sinh ngày 03/4/1988
HKTT: Tổ M, phường NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng.
Chỗ ở: như trên.
Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông;
Con ông: Hà Văn S - Sinh năm 1961;
Con bà: Chu Thị T - Sinh năm 1964;
Đều trú tại: Tổ M, phường NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng;
Vợ: Tô Thị T - Sinh năm 1990;
Trú tại: Tổ M, phường NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng;
Con: Có 01 con sinh năm 2015;
Anh, chị, em ruột: Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út;
Tiền án: 01 tiền án (Ngày 23/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản);
Tiền sự: 01 tiền sự (Tháng 11/2016 bị Công an thành phố Cao Bằng xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 15/6/2017. Có mặt.
Người bị hại: Chị Vi Thị Q - sinh 1982
Cư trú tại: Tổ MT, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phùng Văn M
Cư trú tại: Tổ BM, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng;
Vắng mặt.
2. Chị Phùng Thị B
Cư trú tại: Tổ BM, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05 tháng 6 năm 2017 Công an thành phố Cao Bằng nhận được đơn trình báo của chị Vi Thị Q (Sinh năm 1982, trú tại: tổ MT, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) về việc khoảng 18 giờ 40 phút ngày 05/6/2017 chị Q bị mất 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Nón Sơn treo ở trên xe mô tô dựng trước cửa nhà thuộc tổ MT, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng.
Sau khi nhận được đơn trình báo, đội Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã tiến hành điều tra, xác minh và xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên là Hà Hùng C (Sinh năm 1988, trú tại: Tổ M, phường NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) và Phùng Văn M (Sinh năm 1990, trú tại: Tổ BM, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng).
Tại Cơ quan điều tra, Hà Hùng C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Do không có tiền sử dụng ma túy và chi tiêu cho bản thân nên khoảng 17 giờ ngày 05/6/2017 Phùng Văn M (Sinh năm 1990, trú tại: Tổ BM, phường SH, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Bella màu tím hồng, biển kiểm soát: 11Z2-1828 (Là xe M mượn của chị gái là Phùng Thị B, sinh năm: 1973, trú tại: tổ BM, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng). Khi đến đoạn ngã tư cửa hàng FPT phường SB, thành phố CB thì gặp Hà Hùng C (Sinh năm 1988, trú tại: Tổ M, phường NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng). Sau đó M rủ C đi trộm mũ bảo hiểm đem bán lấy tiền để mua ma túy về sử dụng và C đồng ý. Cả hai cùng thống nhất với nhau M sẽ là người trực tiếp lấy trộm còn C lái xe đứng đợi M. Sau đó C điều khiển xe chở M đi lòng vòng khu vực phường HG, thành phố CB. Khi đến đoạn đường thuộc tổ MT, phường HG, thành phố CB thì thấy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu tím của chị Vi Thị Q (Sinh năm 1982, trú tại: tổ MT, phường HG, thành phố CB) treo để trên xe mô tô dựng trước cửa nhà, quan sát xung quanh không thấy có người nên C dừng xe đứng đợi, còn M đi bộ vào lấy trộm mũ bảo hiểm. Khi M vừa lấy trộm được mũ bảo hiểm để mang ra nơi C đứng đợi thì bị công an bắt quả tang, còn C điều khiển xe bỏ chạy. Đến ngày 15/6/2017 cơ quan điều tra đã bắt được C.
Hành vi của Hà Hùng C đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số: 57/KSĐT-SH ngày 08/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hà Hùng C về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố: Hành vi của bị cáo Hà Hùng C đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản".
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố.
Các vấn đề khác của vụ án:
Ngày 09 tháng 6 năm 2017 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 88 đối với vật chứng vụ án. Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 22 ngày 12/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: “01 mũ bảo hiểm màu tím nhãn hiệu Nón Sơn, mua và sử dụng từ tháng 8/2015 có giá trị còn lại là 48.000đ (Bốn mươi tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại đều nhất trí với kết luận của Hội đồng định giá tài sản về giá trị của chiếc mũ bảo hiểm bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp.
Người bị hại là chị Vi Thị Q vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện việc xác minh và biết được hiện nay chị Q không có mặt tại nơi cư trú từ tháng 7/2017 cho đến nay, không thông báo chính quyền địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra chị Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì bổ sung.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phùng Thị B cho rằng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Bella màu tím hồng, biển kiểm soát: 11Z2-1828 là của chị, việc Phùng Văn M lấy xe đi cùng bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp chị không hay biết, chị đã nhận lại tài sản trong giai đoạn điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu bồi thường gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phùng Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt và chấp nhận bồi thường trong trường hợp người bị hại, người có quyền lợi liên quan yêu cầu. Do hành vi của Phùng Văn M chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 345/QĐ-XPHC ngày 01/8/2017.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Hà Hùng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Hà Hùng C mức án từ 06 đến 09 tháng tù; Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 60, Điều 51 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do không có yêu cầu bồi thường.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Các yếu tố cấu thành tội phạm:
Về mặt khách quan của hành vi: Bị cáo Hà Hùng C đã lợi dụng sơ hở của chị Vi Thị Q trong việc quản lý tài sản, cùng Phùng Văn M có hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản là chiếc mũ bảo hiểm màu tím nhãn hiệu Nón Sơn của chị Q vào hồi 18 giờ 40 phút ngày 05/6/2017.
Hậu quả xảy ra: Hành vi của bị cáo đã chiếm đoạt được chiếc mũ bảo hiểm có giá trị là 48.000 đồng theo Bản kết luận về định giá tài sản số 22/KL-TCKH, ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Hành vi của bị cáo chính là nguyên nhân dẫn đến hậu quả chiếm đoạt được tài sản của chị Q.
Về mặt khách thể: Hành vi của bị cáo Hà Hùng C đã xâm phạm với quan hệ sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.
Về mặt chủ quan: Trong vụ án này Hội đồng xét xử nhận định bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo có hành vi lén lút với người chủ sở hữu tài sản nhằm mục đích, mong muốn chiếm đoạt được tài sản.
Về mặt chủ thể: Căn cứ vào quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự, bị cáo Hà Hùng C có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi. Do đó, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra.
Tuy tài sản bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng do bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của bản án số 06/2017/HS-ST ngày 23/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, cho nên hành vi vi phạm của bị cáo thỏa mãn căn cứ tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên đây, hành vi của bị cáo Hà Hùng C đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Hà Hùng C theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 138 - Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
3. Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hà Hùng C có một tiền án chưa được xóa án tích, bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa, do đó bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo bị xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cần có một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy: Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo sớm trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho những người có ý định phạm tội. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần được chấp nhận.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự "Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này". Như vậy, hình phạt đối với bị cáo Hà Hùng C còn phải tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án số 06/2017/HS-ST ngày 23/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng với mức hình phạt 06 tháng tù. Trong bản án số 06/2017/HS-ST bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 12/01/2017 đến ngày 23/01/2017, thời hạn này theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết 01/2013/NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự về án treo thì được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Trong vụ án này, Phùng Văn M là người cùng bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do giá trị tài sản chưa đến 2.000.000 đồng nên cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M là phù hợp.
4.Về trách nhiệm dân sự:
Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét do người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu.
5.Về án phí: Bị cáo Hà Hùng C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Hà Hùng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 51, khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hà Hùng C 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp với bản án số 06/2017/HS-ST ngày 23/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng với mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 tháng; thời gian chấp hành hình phạt từ ngày 15/6/2017, được trừ vào thời gian bị cáo đã bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 12/01/2017 đến ngày 23/01/2017.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Hà Hùng C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại nơi cư trú ./. N¬i nhËn
tm héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- Tòa án tØnh Cao Bằng;
thÈm ph¸n-chñ to¹ phiªn toµ
- Công an tỉnh Cao Bằng;
- Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
- Công an TP Cao Bằng;
- Thi hành án DS TP Cao Bằng;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người có QLNVLQ;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Lê Na