vanban.org

Bản án 55/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 28/05/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 09/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai.

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai để xét xử lại ở cấp sơ thẩm theo thủ tục chung theo quy định. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "To Tuan T - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 09/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2026/HS-PT
Ngày 28 – 5 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Thanh Gia

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

Ông Ung Quang Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2026/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với các bị cáo Tô Tuấn T và Đinh Khắc L do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai.

- Các bị cáo bị kháng nghị:

1. Tô Tuấn T, sinh ngày 30/01/2000 tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 064200005280; nơi cư trú: Tổ dân phố F, xã P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch; Việt Nam; con ông Tô Văn C và bà Văn Thị Kim T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/10/2020, bị Công an huyện K, tỉnh Gia Lai (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã thi hành xong. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/5/2025 cho đến nay, vắng mặt tại phiên toà.

2. Đinh Khắc L, sinh ngày 03/03/2000 tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 064200010832; nơi cư trú: Buôn S, xã U, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Khắc L1 và bà Đỗ Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/6/2025 cho đến nay, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/8/2024, Nguyễn Văn T2, Dương Minh T3, Nguyễn Văn L2, Trịnh Quốc B và Đinh Khắc L cùng ăn nhậu tại nhà của T2 ở tổ dân phố F, xã P, tỉnh Gia Lai. Trong lúc nhậu, B nói “Giờ có cái mà chơi thì ngon”; nghe B nói vậy thì T3 hiểu (là có ma túy để sử dụng) nên T3 đã gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Vy Thị Tường V (sinh năm: 1996; cư trú tại: Tổ dân phố E, xã P, tỉnh Gia Lai) hỏi mua 01 gói ma túy với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, V đồng ý và nói T3 đợi. Sau đó, V gọi điện qua ứng dụng Mesenger cho Lê Thị Thu H (sinh năm: 1996; cư trú tại: Thôn B, xã C, tỉnh Lâm Đồng) hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng, H đồng ý và nói V qua phòng trọ của H ở tổ dân phố E, xã P để lấy. Khi V đến, H nói ma túy để trên bàn, V vào phòng lấy gói ma túy trên bàn rồi để 200.000 đồng trên bàn rồi đi về. Khi về đến phòng trọ của mình, V chia số ma túy trên thành 03 phần và gói vào trong đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, 01 gói để bán cho T3, 02 gói để V sử dụng. Một lúc sau, V nhắn tin lại cho T3 nói qua phòng trọ của V ở gần chợ P lấy ma túy. Thoại điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 89F7 – 6241 đi đến phòng trọ của V, V đưa cho T3 01 gói ma túy rồi thống nhất là T3 sẽ trả với giá 200.000 đồng, T3 hẹn sẽ trả tiền sau rồi cầm gói ma túy quay lại nhà T2. Trong lúc T3 đi mua ma túy, T2 vào nhà lấy “nồi” và các dụng cụ khác để lắp ráp thành bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. T2 lấy “nồi” bằng thủy tỉnh, ống hút nhựa, vỏ chai nhựa (nắp chai nhựa đã đục sẵn 02 lỗ), T2 đổ nước vào chai rồi để dưới chiếu, sau đó T2 đi ra trước cổng nhà mình. Lâm lắp “nồi”, ống hút vào nắp chai nhựa để thành bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy. B lấy quẹt ga màu đỏ trên chiếu (là quẹt của T2 dùng để hút thuốc lá) tháo các bộ phận ra, cuốn giấy bạc quanh lò xo quẹt rồi gắn vào ống ga để tạo thành “tim” (là dụng cụ dùng để đốt nóng ma túy). Đi được khoảng 15 phút thì T3 quay lại, T3 bỏ gói ma túy xuống chiếu rồi nói “Đứa nào làm gì thì làm đi”, rồi T3 đi ra sau nhà để vệ sinh. L2 xé gói ma túy ra, đổ ma túy vào trong “nồi”. L2 cầm bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và tim lên đốt nóng ma túy để T3 hút khói ma túy. L2 tiếp tục cầm bộ dụng cụ và tim để đốt nóng ma túy cho B và L hút rồi L2 tự hút khói ma túy, sau đó để bộ dụng cụ xuống chiếu. Khoảng 05 phút sau, T2 quay vào nhà, T3 cầm bộ dụng cụ và tim lên đốt nóng ma túy cho T4 hút khói ma túy. Thấy đã hết ma túy, L2 để bộ dụng cụ vào góc phòng khách nhà T2.

Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Tô Tuấn T nhắn tin, gọi điện qua tài khoản Messenger của L, L rủ T tới nhà T2 ăn nhậu. Sau đó L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81X1- 054.00 đi đến nhà T để đón T đến nhà T2. T, T2, T3, L2, L và B ăn nhậu được một lúc, biết nhóm của L mới sử dụng trái phép chất ma túy thì T nói “Để em kiếm cái nữa về chơi”, thì cả nhóm hiểu là lấy ma túy về cùng nhau sử dụng. T đứng lên hỏi mượn xe mô tô trên của L đi được khoảng 15 phút rồi quay lại, T hỏi bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, L2 đưa cho T bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà nhóm L2 vừa sử dụng. T xé gói ma túy, đổ ma túy vào “nồi”, T cầm bộ dụng cụ và tim đốt nóng ma túy rồi tự hút khói ma túy. Sau đó T tiếp tục cầm bộ dụng cụ và tim đốt nóng ma túy để lần lượt cho L, B, T3, L2 và T2 hút khói ma túy. Một lúc sau, B cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên tay thì T2 nhờ B đốt nóng ma túy cho T2 sử dụng, B đồng ý và đốt nóng ma túy cho T2 hút khói ma túy. Sau khi sử dụng xong ma túy, T2 đi ra sau nhà để dọn dẹp. Đến lượt L2 nhờ B đốt nóng ma túy để L2 sử dụng, B đồng ý và đốt nóng ma túy cho L2 hút khói ma túy. Thấy gần hết ma túy, L2 cầm bộ dụng cụ đốt nóng ma túy cho T hút khói ma túy. Sau khi T hút xong, L2 tháo bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy ra, T2 lấy “nồi” và ống hút cất giấu dưới gầm giường, quẹt ga vứt trong sọt rác, đổ nước trong chai ra vứt dưới bếр, nắp chai nhựa T2 đốt cháy. Sau đó, L điều khiển xe mô tô của mình chở T về nhà rồi quay lại nhà T2, T3 và B đi về nhà. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 09/8/2024, T3 chuyển số tiền 200.000 đồng tiền mua ma túy cho V.

Đến sáng ngày 09/8/2024, Công an xã P tiến hành kiểm tra hành chính nhà ở của Nguyễn Văn T2 nghi vấn các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mời về trụ sở để xác minh làm rõ. Qua test nhanh các đối tượng T3, B, V, L2, T2 và L đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T2 tại tổ dân phố F, xã P thu giữ các dụng cụ mà các đối tượng dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nói trên. Tiến hành khám xét chỗ ở của H tại tổ dân phố E, xã P thu giữ các dụng cụ mà V dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nói trên.

Tại Bản kết luận giám định số 760/KL-KTHS ngày 15/8/2024, Phòng K Công an tỉnh G xác định: Chất màu trắng, đen bám dính trong ống thủy tinh, một đầu nối ống nhựa, một đầu uốn cong, phình to (hình cầu) thu giữ tại nhà Nguyễn Văn T2 là chất ma túy loại Methamphetamine, lượng ít nên không cân được khối lượng bám dính. Trong ống hút nhựa màu trắng thu giữ tại nhà T2 có bám dính chất ma túy loại Methamphetamine, lượng ít nên không cân được khối lượng bám dính. Trong chai nhựa trong suốt thu giữ tại nhà T2 không có bám dính chất ma túy.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2026/HS-ST ngày 31/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 54, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 06 năm tù và căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/4/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai để xét xử sơ thẩm lại do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 09/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quyết định kháng nghị phúc thẩm nêu trên, hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 13/5/2026, các bị cáo Đinh Khắc L và Tô Tuấn T đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, các bị cáo trên đã có bản khai cụ thể, rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của các bị cáo không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo L và T theo quy định.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai, một trong hai Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, giải quyết vụ án có tên ông Nguyễn Đức Thại.

Theo Nghị quyết số 34/NQ-HĐND ngày 30/3/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh G về việc xác nhận kết quả bầu Hội thẩm nhân dân tại các Tòa án nhân dân khu vực trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ 2026-2031 thì ông Nguyễn Đức T5 không có tên trong danh sách Hội thẩm nhân dân tại Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai.

Theo khoản 1 Điều 127 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và khoản 20 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định về thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm thì “Tòa án nhân dân cấp tỉnh đề xuất nhu cầu về số lượng, cơ cấu thành phần Hội thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực, đề nghị Ủy ban M cấp tỉnh lựa chọn và giới thiệu người đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này để Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bầu Hội thẩm nhân dân”.

Như vậy, tại thời điểm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo L và T vào ngày 31/3/2026, ông T5 không phải là Hội thẩm nhân dân tại Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai; căn cứ khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án trên không đúng thành phần theo quy định, người có tên trong Hội đồng xét xử không phải là Hội thẩm nên thành phần Hội đồng xét xử thiếu 01 Hội thẩm nhân dân, thuộc trường hợp phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 09/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại sơ thẩm theo thủ tục chung theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị chấp nhận quyết định kháng nghị nêu trên, hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 09/4/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai.

2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2026/HS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai.

3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai để xét xử lại ở cấp sơ thẩm theo thủ tục chung theo quy định. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ