vanban.org

Bản án 55/2025/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn W về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn W có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T số tiền còn nợ 2.124.850.458 đồng (Hai tỷ một trăm hai mươi bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi đối với số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp HĐ mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn W về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/KDTM-ST
Ngày: 23-9-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

− Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Thu

2. Bà Phan Thị Dòn

− Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

− Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phan Mỹ Dung- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2025/TLST-KDTM ngày 05 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2025/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 223/2025/QĐST-KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T;

Địa chỉ: đường số 3, khu công nghiệp X, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cũ).

Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Mai T; địa chỉ: 102 đường Đ, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 05/3/82025); (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn W;

Địa chỉ: xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cũ).

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn M – Chức danh: Giám đốc; là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025 và trong quá trình giải quyết, đại diện nguyên đơn bà Lê Thị Mai T trình bày:

Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T (gọi tắt là Công ty T) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn W (gọi tắt là Công ty W) là đối tác làm ăn lâu năm với nhau từ khoảng năm 2017. Hai bên thường xuyên ký các hợp đồng nguyên tắc để thỏa thuận việc mua bán hàng hóa với nhau. Năm 2018, 2019, 2020 các bên lần lượt ký hợp đồng nguyên tắc nội dung mua bán hàng hóa với phương thức giao hàng, thanh toán, mặt hàng…Việc mua bán hàng hóa giữa hai bên được thực hiện theo phương thức sau: Bị đơn sẽ gọi điện thoại cho nhân viên bán hàng, sau đó nhân viên bán hàng sẽ báo giá, bị đơn chốt giá, số lượng hàng hóa và địa điểm giao hàng. Sau đó nguyên đơn giao hàng theo yêu cầu của bị đơn tại địa điểm do bị đơn chỉ định. Khi giao hàng tới thì bị đơn sẽ ký xác nhận nhận hàng, nguyên đơn sẽ xuất hóa đơn bán hàng (các xác nhận nhận hàng và hóa đơn bán hàng nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án). Tiền thanh toán mua hàng bị đơn sẽ thanh toán gối đầu từng đợt, tùy thuộc vào bị đơn có tiền vào thời điểm nào thì sẽ thanh toán cho nguyên đơn, số tiền nợ mua hàng không vượt quá thỏa thuận của hai bên. Tuy nhiên, từ năm 2019, Công ty Won Jin nhiều lần vi phạm việc thanh toán tiền mua hàng và không đúng với cam kết thanh toán công nợ. Đến 21/12/2021 do phía bị đơn nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã không thực hiện việc giao hàng cho bị đơn nữa. Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở việc trả nợ. Bị đơn cam kết trả nợ nhưng từ ngày 01/01/2022 đến ngày 14/10/2024 bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng.

Ngày 29/02/2024, nguyên đơn đã gửi bản đối chiếu công nợ đến cho phía bị đơn xác nhận. Tại bản đối chiếu công nợ xác nhận đến hết ngày 29/02/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 2.124.850.458 đồng. Ông Phạm Văn Mính là giám đốc công ty, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã ký nhận trực tiếp nhưng từ thời điểm ký xác nhận công nợ cho đến nay, bị đơn vẫn không thực hiện việc thanh toán tiền nợ mua bán hàng hóa cho nguyên đơn làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp và nguồn vốn của công ty nguyên đơn.

Nay Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty W trả cho Công ty T số tiền còn thiếu là 2.124.850.458 đồng (Hai tỷ một trăm hai mươi bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng). Yêu cầu bị đơn trả một lần và trả ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi đối với số tiền nợ nêu trên và cũng không yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc.

Đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn W:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định; nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đều đã được thực hiện đúng quy định nên việc xét xử vắng mặt các đương sự vừa nêu là phù hợp với quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đảm bảo thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T khởi kiện yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn W thanh toán số tiền nợ gốc theo các Hợp đồng nguyên tắc về việc mua bán hàng hóa mà các bên đã ký kết đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”; bị đơn có địa chỉ trụ sở chính của công ty tại xã T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng Công ty Trách nhiệm hữu hạn W do người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn Mính không đến Tòa án trong cả hai lần được Tòa án triệu tập mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử. Do vậy việc xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung:

Công ty T khởi kiện yêu cầu Công ty W phải thanh toán số tiền 2.124.850.458 đồng (Hai tỷ một trăm hai mươi bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).

Căn cứ vào Hợp đồng nguyên tắc số TPC 0201/2018 ngày 02/01/2018; Hợp đồng nguyên tắc số 012019/TPC-WJ ngày 02/01/2019 và Hợp đồng nguyên tắc số 012020/TPC-WJ ngày 02/01/2020 nội dung Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T (Bên A) đồng ý bán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn W (Bên B) các loại hóa chất in, nhuộm…; giá cả theo thời điểm bên B gửi đơn đặt hàng cho bên A; số lượng theo đơn hàng của bên B. Các Hợp đồng nguyên tắc được giao kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS).

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty W đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các Hợp đồng nguyên tắc mà hai bên đã ký kết. Tại bản đối chiếu công nợ xác nhận đến hết ngày 29/02/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 2.124.850.458 đồng. Ông Phạm Văn M là giám đốc công ty, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã ký nhận trực tiếp nhưng từ thời điểm ký xác nhận công nợ cho đến nay, bị đơn vẫn không thực hiện việc thanh toán tiền nợ mua bán hàng hóa cho nguyên đơn làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp và nguồn vốn của công ty nguyên đơn. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số nợ là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Theo Công văn số 871/ĐKKD-THK1 ngày 13/8/2025 của Sở tài chính Thành phố Hồ Chí Minh về việc cung cấp thông tin doanh nghiệp đối với Công ty W: “Thông tin đăng ký doanh nghiệp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn W (Mã số doanh nghiệp 0313876229, đăng ký lần đầu ngày 23/6/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 27/7/2022). Đính kèm thông tin chi tiết: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 27/7/2022. Đến nay, Công ty chưa đăng ký giải thể”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty W do ông Phạm Văn Mính là đại diện theo pháp luật đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 (BLTTDS) thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Do bị đơn không phản đối yêu cầu và chứng cứ mà bên nguyên đơn đưa ra nên coi như bị đơn chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là: 2.124.850.458 đồng (Hai tỷ một trăm hai mươi bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi đối với số tiền nợ nêu trên và cũng không yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 117, Điều 335, 336, khoản 1 Điều 339, Điều 342, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn W về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

2. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn W có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T số tiền còn nợ 2.124.850.458 đồng (Hai tỷ một trăm hai mươi bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi đối với số tiền nợ nêu trên và cũng không yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn W chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 74.497.009 đồng (Bảy mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn không trăm lẻ chín đồng).

Hoàn lại cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.248.505 đồng (Ba mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm lẻ năm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24P, số 0052390 ngày 29/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ