vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 27/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Lê Thị A cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Giao bị cáo Đỗ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Tổ chức đánh bạc”. - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Lê Thị A cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày: 27 - 6 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ.

Bà Nguyễn Thị Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Thị A, sinh năm 1987 tại thành phố Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Hải và bà Hoàng Thị Xòe (đã chết); có chồng và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 083 của Công an huyện Đan Phượng lập ngày 18/2/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Đỗ Thị T, sinh năm 1978 tại thành phố Hà Nội; HKTT; Thôn 9, xã T, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 1, xã T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thiện Bộ (đã chết) và bà Trần Thị Năm (đã chết); có chồng và 03 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 000001747 của Công an thành phố Hà Nội lập ngày 06/6/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không, hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 tại thành phố Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Lý (đã chết) và bà Lê Thị Hiểu; có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản của Công an huyện Đan Phượng số 084 lập ngày 18/2/2025; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không, hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Văn B, sinh năm 1966; nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; có mặt.

+ Anh Trần Văn B, sinh năm 1974; nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; có mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Trần Văn D, sinh năm 1992; nơi cư trú: Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 22/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng phát hiện Lê Thị A (sinh năm 1987 ở cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội) đang có hành vi mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền đối với Nguyễn Văn H (sinh năm 1980 ở cụm 12, xã Thọ An) và Trần Văn B (sinh năm 1974 ở cụm 12, xã Thọ An) qua mạng xã hội Zalo tại nhà riêng. Tại nhà Ánh còn có Trần Văn B (sinh năm 1966), Trần Văn D (sinh năm 1992 cùng ở cụm 12, xã Thọ An) cùng có mặt. Kiểm tra điện thoại của Lê Thị A, Trần Văn B, Nguyễn Văn H và Trần Văn B đều có chứa tin nhắn mua số lô, số đề của Ánh nên Cơ quan điều tra đã thu giữ của Ánh 01 điện thoại di động Iphone, màu hồng lắp sim thuê bao 0986.014.184 và số tiền 7.400.000 đồng; Trần Văn B 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, bên trong lắp sim thuê bao 0975.463.974; Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động OPPO Realme, màu đen, bên trong lắp sim thuê bao 0949.555.711 và số tiền 300.000 đồng; Trần Văn B 01 điện thoại di động Samsung, màu đen bên trong lắp sim 0973.829.567; Trần Văn D 01 điện thoại di động Samsung, màu vàng, bên trong lắp sim số 0964.169.192.

Ngày 05/6/2025, Đỗ Thị T đã đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Tại cơ quan điều tra, Lê Thị A khai nhận: Do muốn kiếm thêm thu nhập nên Ánh đã bán số lô, số đề cho người có nhu cầu. Ánh thỏa thuận với người chơi số đề A là 2 số đầu, số đề B là 2 số cuối của giải đặc biệt kết quả mở thưởng xổ số Miền Bắc cùng ngày; số lô A là 2 số đầu, số lô B là 2 số cuối của 27 giải xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày. Nếu trúng số đề sẽ được thưởng 70 lần số tiền mua; trúng số lô thì sẽ được trả 80.000 đồng/1 điểm tương đương với số điểm đã mua; trúng lô xiên 2 thì sẽ được hưởng 10 lần số tiền mua; trúng lô xiên 3 thì được hưởng 40 lần số tiền mua; trúng lô xiên 4 thì sẽ được hưởng 100 lần số tiền mua; nếu trượt thì sẽ mất số tiền đã mua. Ánh không quy định cụ thể giá bán số lô, số đề mà tùy từng người mua Ánh sẽ bán giá khác nhau.

Để phục vụ cho việc mua bán số lô, số đề, Ánh đã sử dụng 03 điện thoại di động lắp 03 sim để đăng ký tài khoản zalo rồi bán số lô, số đề cho khách và cập nhật theo dõi những người đã đến gặp trực tiếp để mua các số lô, số đề, gồm: 01 điện thoại di động lắp thuê bao số 0914.679.267 đăng ký tài khoản zalo có tên hiển thị “Chíp Chíp”; 01 điện thoại di động lắp sim thuê bao số 0393.885.782 đăng ký tài khoản zalo có tên hiển thị “Trung Kien”; 01 điện thoại di động lắp sim thuê bao số 0986.014.184 đăng ký tài khoản zalo có tên hiển thị “Tùng Sơn”.

Sáng ngày 22/01/2025, sau khi biết Ánh đang bán số lô, số đề cho nhiều người nên Đỗ Thị T (sinh năm 1978 ở thôn 9, xã T) đề nghị mua lại số lô, số đề của Ánh. Ánh đồng ý và thỏa thuận 21.800 đồng/ 01 điểm lô, tiền đề giá 72%, tiền lô xiên giá 80% để hưởng lợi. Ánh sử dụng zalo có tên hiển thị “Tùng Sơn” để kết bạn với zalo của Thực có tên hiển thị “Bánh Mi”. Ngày 22/01/2025, Ánh bán số lô, số đề cho những người khác sau đó chuyển lại cho Thực, cụ thể như sau:

- Nguyễn Văn H sử dụng zalo có tên hiển thị “Van Hieu” nhắn tin qua zalo của Ánh có tên hiển thị “Chíp Chíp” để mua số lô, đề với số tiền 2.400.000 đồng (thu thực tế là 2.350.000 đồng). Sau đó, Ánh nhắn sang zalo “Tùng Sơn” rồi chuyển tiếp tin nhắn tất cả số lô, đề trên cho Thực để hưởng lợi. Hiệu đã trả tiền cho Ánh.

- Trần Văn B đã sử dụng zalo có tên hiển thị “Huy” nhắn tin qua zalo của Ánh có tên hiển thị “Chíp Chíp” để mua số lô với số tiền 440.000 đồng. Ánh đồng ý. Hai bên đã thanh toán tiền cho nhau xong. Sau đó, Ánh nhắn sang zalo “Tùng Sơn” để theo dõi và chuyển tiếp 10 điểm lô cho Đỗ Thị T, còn 10 điểm lô thì Ánh giữ lại.

- Nguyễn Văn C đã sử dụng zalo có tên hiển thị “Xuan Nguyen” nhắn tin cho Ánh qua tài khoản zalo có tên hiển thị “Tùng Sơn” để mua các số lô với số tiền 660.000 đồng, Chừng chưa thanh toán cho Ánh. Ánh đã chuyển tiếp qua zalo “Bánh Mi” cho Thực để hưởng lợi.

- 02 người đàn ông (Ánh không nhớ rõ nhân thân lai lịch) đã gặp trực tiếp Ánh mua các số lô, số đề cụ thể: Người thứ nhất mua các số lô, số đề với tổng số tiền là 13.440.000 đồng, (thu thực tế là 12.795.000 đồng). Sau đó, Ánh ghi ra tờ giấy ghi ngày âm lịch 23/12/2024 (tương ứng ngày dương lịch 22/01/2024), một bản đưa cho người đàn ông, một bản giữ lại. Người thứ hai mua các số lô, số đề với tổng số tiền là 2.370.000 đồng, thu thực tế là 2.245.000 đồng, người này đã thanh toán tiền cho Ánh. Ánh đã dùng zalo có tên hiển thị “Trung Kien” nhắn nội dung qua zalo “Tùng Sơn” của Ánh để tiện theo dõi, rồi chuyển tiếp qua zalo “Bánh Mi” cho Thực để hưởng lợi.

Như vậy, tổng số tiền Ánh bán số lô, số đề cho nhiều người trong ngày 22/01/2025 là 19.310.000 đồng (thực tế thu 18.490.000 đồng). Số tiền Ánh mua số lô, số đề với Thực là 18.949.000 đồng (thực tế phải trả 18.066.600 đồng). Tại thời điểm Ánh chuyển bảng cho Thực chưa có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc và hai bên chưa thanh toán tiền thì bị Cơ quan điều tra phát hiện.

+ Quá trình điều tra, còn làm rõ từ ngày 10/9/2024 đến 21/12/2024, Lê Thị A đã bán số lô, số đề cho nhiều người, nhiều lần. Cụ thể như sau:

- Ngày 10/9/2024, Ánh bán trực tiếp số lô cho người đàn ông (không rõ nhân thân) với số tiền 660.000 đồng. Kết quả người đàn ông này không trúng, hai bên đã thanh toán tiền cho nhau, Ánh được hưởng lợi 660.000 đồng.

- Ngày 28/11/2024, Nguyễn Văn C đã sử dụng zalo của mình tên “Xuan Nguyen” nhắn tin cho Ánh qua tài khoản zalo “Tùng Sơn” để mua các số lô với số tiền 220.000 đồng nhưng không trúng. Hai bên đã thanh toán tiền cho nhau, Ánh được hưởng lợi 220.000 đồng.

- Ngày 29/11/2024, Chừng nhắn tin qua mạng Zalo vào tài khoản trên cho Ánh để mua các số đề với số tiền là 320.000 đồng nhưng không trúng. Hai bên đã thanh toán tiền, Ánh được hưởng lợi 320.000 đồng.

- Ngày 11/12/2024, Chừng tiếp tục nhắn tin cho Ánh qua Zalo để mua các số đề với số tiền 60.000 đồng (thực tế thu 48.000 đồng), Chừng không trúng. Hai đã thanh toán tiền cho nhau xong, Ánh được hưởng lợi 48.000 đồng.

- Ngày 21/12/2024, Chừng tiếp tục nhắn tin qua Zalo cho Ánh để mua các số lô với số tiền 330.000 đồng nhưng không trúng. Chừng đã thanh toán tiền, Ánh được hưởng lợi 330.000 đồng.

- Ngày 22/12/2024, Chừng nhắn tin qua Zalo đến Ánh để mua các số lô, đề với số tiền 750.000 đồng (thực tế Ánh thu 644.000 đồng) nhưng không trúng. Chừng đã thanh toán, số tiền Ánh hưởng lợi là 644.000 đồng.

- Ngày 28/12/2024, Chừng tiếp tục nhắn tin qua tài khoản Zalo cho Ánh để mua các số lô với số tiền 1.100.000 đồng nhưng không trúng. Hai bên đã thanh toán tiền thắng thua với nhau, số tiền Ánh hưởng lợi là 1.100.000 đồng.

- Ngày 05/01/2025, Chừng nhắn tin qua tài khoản Zalo như nêu trên cho Ánh để mua các số lô, đề với số tiền là 6.020.000 đồng (thu thực tế là 5.960.000 đồng). Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì Chừng trúng số tiền 4.800.000 đồng. Ánh và Chừng đã thanh toán tiền thắng thua với nhau. Tổng số tiền Ánh và Chừng dùng để đánh bạc ngày 05/01/2025 là 10.820.000 đồng. Số tiền Ánh hưởng lợi là 1.160.000 đồng.

- Ngày 12/01/2025, Chừng tiếp tục nhắn tin cho Ánh để mua các số lô với số tiền là 1.100.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì Chừng trúng số tiền 2.400.000 đồng. Tổng số tiền Ánh và Chừng dùng để đánh bạc ngày 12/01/2025 là 3.500.000 đồng. Hai bên đã thanh toán thắng thua cho nhau xong, số tiền Chừng hưởng lợi là 1.300.000 đồng.

- Ngày 13/01/2025, Chừng tiếp tục nhắn tin cho Ánh để mua các số lô với số tiền 660.000 đồng nhưng không trúng. Hai bên đã thanh toán tiền thắng thua với nhau, tổng số tiền Ánh hưởng lợi là 660.000 đồng.

- Ngày 14/01/2025, Chừng nhắn tin cho Ánh để mua các số lô, số đề với số tiền 1.100.000 đồng (thu thực tế là 1.078.000 đồng) nhưng không trúng. Hai bên đã thanh toán được thua với nhau, Ánh được hưởng lợi 1.078.000 đồng.

- Ngày 15/01/2025, Chừng tiếp tục nhắn tin cho Ánh để mua các số lô, với số tiền là 990.000 đồng. Kết quả Chừng trúng 1.200.000 đồng, hai bên đã thanh toán tiền thắng thua với nhau. Tổng số tiền Ánh và Chừng đánh bạc ngày 15/01/2025 là 2.190.000 đồng, số tiền Chừng được hưởng lợi là 210.000 đồng.

- Ngày 16/01/2025, Chừng tiếp tục nhắn tin cho Ánh để mua các số lô, đề với số tiền là 1.650.000 đồng (thu thực tế là 1.540.000 đồng). Kết quả, Chừng trúng đề số tiền 700.000 đồng và trúng lô số tiền 400.000 đồng, hai bên đã thanh toán tiền thắng thua với nhau. Tổng số tiền Ánh và Chừng dùng để đánh bạc ngày 16/01/2025 là 2.750.000 đồng, số tiền Ánh được hưởng lợi là 440.000 đồng.

- Ngày 19/01/2025, Ánh bán trực tiếp cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) các số lô, đề với số tiền 900.000 đồng (thu thực tế là 840.000 đồng). Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì người đàn ông này trúng số tiền 1.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 2.100.000 đồng, Ánh thua 360.000 đồng nên không được hưởng lợi.

Cùng ngày, Trần Văn B (sinh năm 1966; trú tại cụm 12, xã T) đã sử dụng zalo có tên hiển thị “Tranvanbich” nhắn tin qua zalo của Ánh có tên hiển thị “Tùng Sơn” mua số lô, đề với số tiền là 710.000 đồng (thu thực tế là 656.000 đồng). Bích không trúng, hai bên đã thanh toán cho nhau xong. Số tiền Ánh hưởng lợi là 656.000 đồng.

Tổng số tiền Ánh đánh bạc ngày 19/01/2025 là 2.810.000 đồng. Số tiền Ánh hưởng lợi ngày 19/01/2025 là 296.000 đồng.

- Ngày 20/01/2025, Ánh bán trực tiếp cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) số lô với số tiền 1.050.000 đồng (thu thực tế 1.035.000 đồng). Sau đó, Ánh sử dụng tài khoản Zalo “Chíp Chíp” để nhắn nội dung qua zalo “Tùng Sơn” để tiện theo dõi. Kết quả người đánh không trúng, hai bên đã thanh toán cho nhau. Số tiền Ánh hưởng lợi thực tế là 1.035.000 đồng.

- Ngày 21/01/2025, Ánh tiếp tục bán trực tiếp cho 02 người đàn ông (không rõ nhân thân), người thứ nhất mua các số lô, đề số tiền 8.860.000 đồng (thu thực tế 8.460.000 đồng). So sánh với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì người đàn ông này trúng số tiền 14.400.000 đồng. Tổng số tiền Ánh và người đàn ông sử dụng để đánh bạc ngày 21/01/2025 là 23.260.000 đồng, Ánh thua 5.940.000 đồng.

Ánh còn bán cho 01 người đàn ông thứ hai số lô với số tiền 1.540.000 đồng. Ánh đã dùng zalo có tên hiển thị “Trung Kien” để nhắn nội dung qua zalo “Tùng Sơn”. Kết quả người đàn ông thứ hai không trúng, hai bên đã thanh toán xong. Ánh hưởng lợi số tiền 1.540.000 đồng. Tổng cộng hai lần trên, Ánh thua 4.400.000 đồng.

Cùng ngày Ánh có bán số lô, số đề qua tài khoản Zalo “Tùng Sơn” cho Trần Văn B số lô, đề với số tiền là 200.000 đồng (thực tế thu 160.000 đồng). Bích đã thanh toán tiền xong và không trúng. Số tiền Ánh hưởng lợi là 160.000 đồng.

- Hoàng Văn H (ở cụm 12, xã T) đã sử dụng zalo có tên hiển thị “Trai Đan Phượng” nhắn tin qua zalo của Ánh có tên hiển thị “Tùng Sơn” mua số lô, đề với số tiền 1.350.000 đồng (thu thực tế là 1.300.000 đồng). So sánh với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc thì Hòa trúng số tiền 800.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc 2.150.000 đồng. Hai bên đã thanh toán tiền thắng thua với nhau, số tiền Ánh hưởng lợi thực tế là 500.000 đồng.

Số tiền Ánh bán số lô, số đề ngày 21/01/2025 là 27.150.000 đồng nhưng không được hưởng lợi.

Tổng số tiền Lê Thị A thu lợi trong quá trình bán số lô, số đề là 7.991.000 đồng. Số tiền Nguyễn Văn C thu lợi bất chính là 1.510.000 đồng.

+ Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 14 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Thị A về tội Tổ chức đánh bạc, theo qui định tại điểm c Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C về tội Đánh bạc, theo qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố hành vi của bị cáo Lê Thị A về tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị A từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu hồng, bên trong lắp 01 sim và số tiền 7.400.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Thị A; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, bên trong lắp 01 sim của Trần Văn B; 01 điện thoại di động Realme màu đen, bên trong lắp 01 sim của Nguyễn Văn H; 01 chiếc điện thoại di động Samsung, màu đen bên trong lắp 01 sim của Trần Văn B.

Trả lại cho anh Trần Văn D 01 chiếc điện thoại di động Samsung, màu vàng bên trong lắp 01 sim; trả lại cho Nguyễn Văn H số tiền 300.000 đồng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 7.400.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Thị A. Truy thu số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc của bị cáo Ánh là 39.071.000 đồng, để sung vào ngân sách nhà nước.

Truy thu số tiền hưởng lợi bất chính và tiền dùng đánh bạc đối với bị cáo Nguyễn Văn C là 10.160.000 đồng; của Hoàng Văn H là 800.000 đồng, để sung vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để khẳng định: Do không có việc làm ổn định nên Lê Thị A đã có hành vi bán số lô, số đề cho Đỗ Thị T, Nguyễn Văn C, Trần Văn B, Trần Văn B, Nguyễn Văn H, Hoàng Văn H và một số người chưa rõ nhân thân, địa chỉ tại nhà của mình ở Cụm 12, xã T, thành phố Hà Nội.

Quá trình điều tra xác định cụ thể: Ngày 05/01/2025, Lê Thị A bán cho Nguyễn Văn C tổng số tiền lô và đề là 10.820.000 đồng; ngày 21/01/2025, Ánh bán số lô, số đề cho Trần Văn B, Hoàng Văn Hoà và 02 người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) tổng số tiền là 27.150.000 đồng; ngày 22/01/2025, Ánh mua bán số lô, số đề với Đỗ Thị T số tiền là 18.949.000 đồng. Đến 18 giờ 00 phút ngày 22/01/2025 thì Lê Thị A, Nguyễn Văn C cùng các đối tượng liên quan bị Cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ 04 chiếc điện thoại và số tiền 7.400.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề.

Bị cáo Lê Thị A mua bán số lô, đề nhiều ngày với tổng số tiền trên 20.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo Ánh có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Đỗ Thị T, Nguyễn Văn C mua bán số lô, số đề với tổng số tiền dưới 20.000.000 đồng nên hành vi của các bị cáo Thực, Chừng đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố các bị cáo về tội danh và viện dẫn điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm với hành vi phạm tội của các bị cáo, để giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong vụ án thì bị cáo Ánh phạm tội tổ chức đánh bạc nên có vai trò đầu vụ; bị cáo Thực và Chừng phạm tội đánh bạc, trong đó bị cáo Thực có vai trò cao hơn. Các bị cáo đều là những người lao động nhưng vì lợi ích cá nhân nên dẫn đến phạm tội.

Khi quyết đình hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Thị A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội. Xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, tổng số tiền thực tế trong vụ việc tổ chức đánh bạc chỉ hơn 47 triệu; bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ để giáo dục bị cáo.

Đối với các bị cáo Đỗ Thị T, Nguyễn Văn C phạm tội đánh bạc với số lượng tiền của mỗi bị cáo có khác nhau, trong đó số tiền bị cáo Thực đánh bạc nhiều hơn nên cần có mức hình phạt cao hơn. Hội đồng xét xử cũng xét các bị cáo Thực, Chừng đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Thực sau khi phạm tội đã đầu thú nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 3 Điều 322 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính các điều luật còn qui định hình phạt bổ sung bằng tiền. Xét các bị cáo Lê Thị A, Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với hành vi của Trần Văn B, Trần Văn B, Nguyễn Văn H, Hoàng Văn H mua các số lô, số đề của Lê Thị A nhưng chưa đến mức 5.000.000 đồng. Về nhân thân những người này chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc hoặc Tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Anh Trần Văn D là người có mặt tại nhà Ánh khi cơ quan Công an bắt giữ vụ việc. Dũng khai nhận đến nhà Ánh để mua thuốc uống, khi đang ngồi uống nước tại đó thì cơ quan Công an đến kiểm tra. Quá trình điều tra không thu giữ được tài liệu thể hiện Dũng có hành vi mua số lô, số đề với Ánh nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với những người chung sống cùng Lê Thị A đều không biết việc Ánh mua bán số lô, số đề và một số người khách mua số lô, số đề của Ánh, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người đó, ngoài lời khai của Ánh không có tài liệu nào khác nên không làm rõ được để xử lý.

Về xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng gồm 01 điện thoại di động Iphone 7, màu hồng lắp sim thuê bao 0986.014.184 và số tiền 7.400.000 đồng của Lê Thị A; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng, bên trong lắp 01 sim điện thoại của Trần Văn B; 01 điện thoại di động OPPO Realme màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại và số tiền 300.000 đồng của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động Samsung, màu đen bên trong lắp 01 sim của Trần Văn B; 01 điện thoại di động Samsung, màu vàng, bên trong lắp sim 01 sim của Trần Văn D.

Bị cáo Ánh và những người liên quan là Trần Văn B, Nguyễn Văn H, Trần Văn B đã dùng điện thoại nêu trên để liên lạc, nhắn tin mua bán số lô, số đề với nhau nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Về chiếc điện thoại của anh Trần Văn D do không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho anh Dũng là có căn cứ.

Số tiền 7.400.000 đồng thu giữ của Lê Thị A là tiền thu được từ việc mua bán số lô, số đề nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H, quá trình điều tra xác định Hiệu có mua số lô, số đề của Ánh nhưng đã thanh toán tiền mua bán số lô, số đề với Ánh trước đó. Xác định đây là số tiền cá nhân của Hiệu, không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho Hiệu là phù hợp.

Số tiền bị cáo Lê Thị A thu được từ việc đánh bạc, cũng như số tiền được hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc tổng số là 39.071.000 đồng, cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

Số tiền bị cáo Nguyễn Văn C sử dụng đánh bạc và số tiền hưởng lợi từ việc đánh bạc tổng số là 10.160.000 đồng; của anh Hoàng Văn H là 800.000 đồng, cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị A 17 (Mười bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 (Ba mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Giao bị cáo Lê Thị A cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Đỗ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

4. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu hồng, bên trong lắp 01 sim và số tiền 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lê Thị A; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, bên trong lắp 01 sim của Trần Văn B; 01 điện thoại di động Realme màu đen, bên trong lắp 01 sim của Nguyễn Văn H; 01 chiếc điện thoại di động Samsung, màu đen bên trong lắp 01 sim của Trần Văn B.

+ Trả lại cho anh Trần Văn D 01 chiếc điện thoại di động Samsung, màu vàng bên trong lắp 01 sim;

+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

+ Buộc bị cáo Lê Thị A nộp số tiền thu được từ việc đánh bạc, cũng như số tiền được hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc, tổng số là 39.071.000 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), để sung vào ngân sách nhà nước.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Văn C nộp số tiền sử dụng đánh bạc và hưởng lợi từ việc đánh bạc, tổng số là 10.160.000 đồng (Mười triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng), để sung vào ngân sách nhà nước.

+ Buộc anh Hoàng Văn H nộp số tiền hưởng lợi từ việc đánh bạc là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), để sung vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng vụ án hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2025 - Số tiền được chuyển vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng theo Giấy nộp tiền ngày 23/6/2025 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam).

6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Thị A, Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo Lê Thị A, Đỗ Thị T và Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hà Nội;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Đan Phượng;

- CQTHAHS huyện Đan Phượng;

- CCTHADS huyện Đan Phượng;

- Các bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Doãn Văn Tuyến HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ